Xem Nhiều 3/2023 #️ Từ Phiếm Định Trong Tiếng Việt # Top 11 Trend | Drosetourmanila.com

Xem Nhiều 3/2023 # Từ Phiếm Định Trong Tiếng Việt # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Từ Phiếm Định Trong Tiếng Việt mới nhất trên website Drosetourmanila.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 

Đinh Văn Sơn

TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT (so sánh với tiếng Anh)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013

G ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 

Đinh Văn Sơn

TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNGVIỆT (so sánh với tiếng Anh) Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu Mã số: 62220110

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Đức Dân Phản biện độc lập: 1. PGS. TS. Trịnh Sâm 2. chúng tôi Nguyễn Thị Việt Thanh 3. TS. Nguyễn Thị Phƣơng Trang Phản biện 1: GS. TS. Nguyễn Thiện Giáp Phản biện 2: PGS. TS. Trịnh Sâm Phản biện 3: TS. Nguyễn Thị Phƣơng Trang

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013

ii

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trính nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ một công trính nào khác.

Tác giả luận án Đinh Văn Sơn

iii

LỜI CẢM ƠN Tác giả có lẽ đã không thể viết nên đƣợc gần 300 trang giấy cho công trính nghiên cứu khoa học này nếu nhƣ không có đƣợc sự động viên và giúp đỡ của nhiều ngƣời, cả trong và ngoài ngôi trƣờng thân yêu của tác giả, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chì Minh. Một lời cảm ơn chân thành từ tận đáy lòng xin dành cho tất cả họ. Tuy vậy, tác giả cảm thấy nhƣ thế vẫn chƣa đủ. Tác giả xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với G iáo sƣ hƣớng dẫn: GS. TS. Nguyễn Đức Dân, ngƣời đã luôn ở bên cạnh, dành nhiều thời gian, công sức và cả tính thƣơng để chỉ bảo cho tác giả, sửa từng dòng chữ, từng trang tác giả viết. Tác giả cũng xin cảm ơn GS. TS. Bùi Khánh Thế, PGS. TS. Nguyễn Văn Huệ, PGS. TS. Trần Thị Ngọc Lang, PGS. TS. Nguyễn Thị Hai, PGS. TS. Trịnh Sâm, PGS. TS. Dƣ Ngọc Ngân, PGS. TS. Lê Khắc Cƣờng, TS. Huỳnh Bá Lân, TS. Nguyễn Thị Kiều Thu, TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh, TS. Nguyễn Thị Phƣơng Trang đã cho tác giả những lời khuyên thật bổ ìch. Xin cảm ơn các Giáo sƣ, Tiến sĩ, các Giảng viên của Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chì Minh đã giảng dạy và giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trính học tập và thực hiện luận án ở trƣờng cũng nhƣ đã cho những ý kiến đóng góp thật sâu sắc , thật ý nghĩ a dành cho luận án kể tƣ̀ khi luận án còn là một bản thảo. Và tác giả cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo Trƣờng Đại học Luật Tp. Hồ Chì Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trính học tập. Xin cảm ơn các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tác giả thực hiện luận án. Tác giả luận án Đinh Văn Sơn

iv

1

0.1. Lý do chọn đề tài

1

0.2. Lịch sử vấn đề

2

0.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

12

0.4. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

13

0.5. Giá trị, ý nghĩa của luận án

13

0.6. Bố cục của luận án

14

Chƣơng 1: TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT

16

1.1. Quan niệm về từ phiếm định trong tiếng Việt

16

1.1.1. Đị nh nghĩ a từ phiếm định

16

1.1.2. Các tiểu loại từ phiếm định trong tiếng Việt

16

1.2. Ý nghĩa và cách dùng của từ phiếm định trong tiếng Việt

18

1.2.1. Ý nghĩa và cách dùng của chỉ định từ phiếm định trong tiếng Việt

18

1.2.2. Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định trong tiếng Việt

22

1.2.3. Ý nghĩa và cách dùng của lượng từ phiếm định trong tiếng Việt

30

1.2.4. Ý nghĩa và cách dùng của quán từ phiếm định trong tiếng Việt

39

1.3. Chức năng ngữ dụng của từ phiếm định trong tiếng Việt

40

1.3.1. Chức năng khẳng định tuyệt đối của từ phiếm định trong tiếng Việt

40

v

1.3.2. Chức năng phủ định tuyệt đố i của từ phiếm định trong tiếng Việt

44

1.3.3. Chức năng chất vấn-bác bỏ của từ phiếm định trong tiếng Việt Tiểu kết

Chƣơng 2: TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG ANH

53

2.1. Quan niệm về từ phiếm định trong tiếng Anh

53

2.1.1. Đị nh nghĩ a từ phiếm định

53

2.1.2. Các tiểu loại từ phiếm định trong tiếng Anh

53

2.2. Ý nghĩa và cách dùng của từ phiếm định trong tiếng Anh

55

2.2.1. Ý nghĩa và cách dùng của chỉ định từ phiếm định trong tiếng Anh

55

2.2.2. Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định trong tiếng Anh

59

2.2.3. Ý nghĩa và cách dùng của lượng từ phiếm định trong tiếng Anh

69

2.2.4. Ý nghĩa và cách dùng của quán từ phiếm định trong tiếng Anh

81

2.2.5. Ý nghĩa và cách dùng của trạng từ phiếm định trong tiếng Anh

82

2.3. Chức năng ngữ dụng của từ phiếm định trong tiếng Anh

86

2.3.1. Chức năng khẳng định tuyệt đối của từ phiếm định trong tiếng Anh

86

2.3.2. Chức năng phủ định tuyệt đối của từ phiếm định trong tiếng Anh

86

2.3.3. Chức năng chất vấn-bác bỏ của từ phiếm định trong tiếng Anh

87

vi

Tiểu kết

88

Chƣơng 3: ĐỐI CHIẾU TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

90

3.1. Những điểm tƣơng đồng

90

3.2. Những điểm dị biệt

96

3.3. Nhận xét chung về từ phiếm định trong tiếng Việt và tiếng Anh

103

Chƣơng 4: HÌNH THỨC TƢƠNG ĐƢƠNG CỦA TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

106

4.1. Hính thức tƣơng đƣơng của từ phiếm định trong tiếng Việt

106

4.2. Hính thức tƣơng đƣơng của từ phiếm định trong tiếng Anh

126

4.3. Đối chiếu hính thức tƣơng đƣơng

144

Tiểu kết KẾT LUẬN

5.1. Những đóng góp của luận án

148

5.2. Những hạn chế chủ yếu của luận án

150

Tài liệu tham khảo

151

Nguồn ngữ liệu minh họa

159

162

vii

viii

ix

Vì dụ: I did nothing deliberately. [WH, 82] „Tôi chẳng làm điều gì một cách cố tính cả.‟ [ĐGH, 94] 3. ĐÁNH SỐ 3.1. Đối với các vì dụ minh họa Các vì dụ minh họa sẽ đƣợc ghi số thứ tự theo từng chƣơng. Vì dụ: Chƣơng 1 có số thứ tự các vì dụ minh họa từ (1), (2), (3), (4)… đến (n). Chƣơng 2 có số thứ tự các vì dụ minh họa từ (1), (2), (3), (4)… đến (n). ………………………………………………………………………………… 3.2. Đối với phần chú thìch Số thứ tự các phần chú thìch cũng đƣợc ghi riêng cho từng chƣơng. Vì dụ: Chƣơng 1 có thứ tự chú thìch từ 1, 2, 3, 4… đến n. Chƣơng 2 có thứ tự chú thìch từ 1, 2, 3, 4… đến n. …………………………………………………… 4. VIẾT TẮT Để tiện theo dõi, chúng tôi hạn chế sử dụng các từ viết tắt trong luận án ngoại trừ những thuật ngữ đƣợc lặp lại rất nhiều lần. Mỗi thuật ngữ đƣợc viết tắt này sẽ đƣợc ghi đầy đủ khi xuất hiện lần đầu trong mỗi chƣơng, bên cạnh đó là chữ viết tắt đƣợc để trong dấu ngoặc đơn. Vì dụ: Cao Xuân Hạo (chủ biên ) [2005] cho rằng đại từ phiếm đị nh (ĐTPĐ) trong tiếng Việt gồm sáu loại. BẢNG DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 1 Bn: bổ ngƣ̃

9

LT: lƣợng từ

2 CĐT: chỉ định từ

10 LTPĐ: lƣợng từ phiếm định

3 CĐTPĐ: chỉ định từ phiếm định

11 QTPĐ: quán từ phiếm định

4 Cn: chủ ngữ

12 TPĐ: từ phiếm định

5 DT: danh từ

13

6 ĐT: đại từ

14 TrT: trạng từ

7 ĐTNV: đại từ nghi vấn

15 TrTPĐ: trạng từ phiếm định

8 ĐTPĐ: đại từ phiếm định

16 VT: vị từ

TT: tình từ

x

5. KÝ HIỆU Một số ký hiệu sau đây đƣợc sử dụng trong luận án: 1 Dấu /: hay, hoặc

5

Dấu ≈: có giá trị tƣơng đƣơng với

2 Dấu +: có, cộng với, kết hợp với

6

Dấu *: câu không chấp nhận đƣợc

3 Dấu →: có thể dịch thành, có thể 7 hiểu là 4 Dấu =: có giá trị bằng với

Dấu ?: câu khó có thể chấp nhận đƣợc

8

Dấu X: hính thức không có trong tiếng Anh

1

MỞ ĐẦU 0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Từ phiếm định1 (TPĐ) là lớp từ xƣa nay ìt nhiều đã đƣợc đề cập đến trong hầu hết các sách ngữ pháp (grammar) tiếng Việt và tiếng Anh. Nhƣng một công trính xem xét đầy đủ về lớp từ này thí từ trƣớc tới nay chƣa hề có. Việc nghiên cứu TPĐ (indefinite word) một cách có hệ thống theo hƣớng đối sánh giữa hai ngôn ngữ ViệtAnh sẽ rất có ý nghĩa khoa học và thực tiễn ví nó không những góp phần vào việc nghiên cứu ngữ pháp, ngữ nghĩa (semantics) và ngữ dụng (pragmatics) của một ngôn ngữ mà còn đóng góp tìch cực vào những công việc mang tình thực tiễn sâu sắc hơn nhƣ: việc dịch thuật giữa các ngôn ngữ, việc biên soạn các loại từ điển, sách giáo khoa, giáo trình… Là giảng viên giảng dạy tiếng Anh ở trƣờng Đại học Luật Tp. Hồ Chì Minh, trong quá trính giảng dạy chúng tôi nhận thấy có rất nhiều sinh viên năm thứ hai2 trong các lớp: Dân sƣ̣ , Hính sự và Hành chánh K 32… không biết TPĐ là gí cả. Để giúp các sinh viên này biết đƣợc ý nghĩa và chức năng của TPĐ cũng nhƣ những điểm tƣơng đồng và dị biệt giữa TPĐ tiếng Việt và tiếng Anh và thí nhất thiết phải có một công trính nghiên cứu riêng về TPĐ trong tiếng Việt theo hƣớng đối sánh với lớp từ tƣơng đƣơng trong tiếng Anh. Từ những lý do đƣợc đề cập bên trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Từ phiếm định trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)” làm đối tƣợng nghiên cứu của luận án với niềm hy vọng rằng những kết quả nghiên cứu về lớp từ này sẽ rất hữu 1

Có rất nhiều tên gọi khác nhau cho lớ p từ này. Nếu nhƣ Trƣơng Văn Chì nh và Nguyễn

Hiến Lê [1963]… gọi nó là từ bất định thì Nguyễn Kim Thản [1964/97] và Bùi Đức Tịnh [1966/95]… gọi là từ phiếm chỉ. Trong khi đó Cao Xuân Hạo (chủ biên) [2005]… lại gọi là từ chưa xác đị nh , từ không xác đị nh . Nhƣng để thống nhất , chúng tôi chọn cách gọi tên theo Nguyễn Đƣ́c Dân [1987] cho lớp từ này là từ phiếm đị nh trong suốt luận án. 2

Ở trƣờng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, sinh viên bắt đầu học tiếng Anh tƣ̀ học kỳ 1 năm

thƣ́ hai.

2

3

Các tác giả cũng nhấn mạnh thêm rằng LTPĐ thƣờng không có loại từ (classifier) hay LT (quantifier) trỏ đơn vị (unit) theo sau. Vì dụ: (3) Ông Giáp có nhiều nhà cho thuê lắm. Các từ đơn và từ kép nhƣ: cả, tất, hết thảy, tất cả đƣợc gọi là những LT trỏ lƣợng toàn thể. Vài, dăm, mấy, mƣơi đƣợc gọi là LT trỏ lƣợng phỏng chừng và mỗi, một là những LT trỏ lƣợng nhất định. Trong khi đó, những, các, mọi đƣợc coi là những LT trỏ số. Vì dụ: (4) Chị Giáp mua tất cả cam của chị Ất. 0.2.1.3. Nguyễn Kim Thản Trong quyển Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt xuất bản năm 1964/97, ở phần đại từ nghi vấn (ĐTNV), tác giả có nêu ý nghĩa phiếm đị nh của các

từ này. Theo tác

giả, tất cả các ĐTNV (interrogative pronoun) trong tiếng Việt đều có thể có ý nghĩa phiếm đị nh, nghĩa là các từ này không còn ý nghĩa nghi vấn nữa mà chỉ có ý nghĩa chung chung, không trỏ vào một sự vật, một tình chất hay một trạng thái cụ thể nào. Ý nghĩa của ĐTNV trở nên phiếm đị nh khi ĐTNV đƣợc đặt trƣớc từ cũng và khi đó ĐTNV trở thành ĐTPĐ . Theo tác giả , các ĐTPĐ bao gồm ai, gì, đâu, đâu đâu, đâu đấy, nào, sao, bao giờ, bao nhiêu. Vì dụ: (5) Cái gì thái quá cũng không tốt. Các ĐTNV cũng trở thành ĐTPĐ khi chúng đƣợc dùng trong

câu phủ định

(negative sentence) và câu cảm thán (exclamatory sentence). (6) Thứ chẳng nói gì… (7) Vợ con gì! Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến các LTPĐ vài, dăm, cả, tất cả, hết thảy, mọi. 0.2.1.4. Bùi Đức Tịnh Các tiểu loại TPĐ đƣợc tác giả đề cập đến trong quyển Văn phạm Việt Nam công bố năm 1966/95 là ĐTPĐ, CĐTPĐ và LTPĐ . ĐTPĐ gồm hai loại: loại chỉ ngƣời : ai, ai ai, nấy, ai nấy, ngƣời, kẻ… kẻ, kẻ… ngƣời, kẻ thì… ngƣời thì, loại chỉ ngƣời lẫn vật: cả, tất, tất cả, hết thảy. Vì dụ: (8) Ai lo việc nấy. (việc nấy = việc của ngƣời ấy)

4

CĐTPĐ thì có nào, gì, chi, kia, nọ, gì… ấy (nấy), nào… ấy (nấy), bất cứ và các từ vốn là LTPĐ nhƣ: mỗi, tƣ̀ng, vài, mấy, một í t, cả, tất cả , hết thảy, nhiều, các, nhƣ̃ng, phần đông, đa số. Vì dụ: (9) Cha nào con nấy. Trong khi đó, LTPĐ lại bao gồm mỗi, từng, vài, mấy, ít, thiểu số, cả, tất cả, hết thảy, nhiều, các, những, phần đông, đa số, đại đa số, tất cả mọi. (10) Mỗi ngƣời đều có nhiệm vụ trong xã hội. Một điều đáng lƣu ý, theo tác giả, là tính từ (TT) khác cũng có thể biến di từ loại thành một CĐTPĐ. Vì dụ: (11) Anh ấy bây giờ khác ngày trƣớc rất nhiều. Khác ở đây chỉ một tình cách (không giống, đã thay đổi). Do vậy nó là TT (adjective). (12) Ông hãy tím ngƣời khác. Khác trong câu này thêm một ý nghĩa khái quát vào cho ngƣời nên nó đã biến di từ loại thành một CĐTPĐ. 0.2.1.5. Lê Văn Lý Trong quyển Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam xuất bản năm 1972, ở hạng mục số, tác giả có đề cập đến một số LTPĐ mà tác giả gọi là những ngữ vị3 (glosseme) chỉ số nhiều nhƣ: những, mấy, lắm, nhiều và những ngữ vị chỉ số tập hợp: cả, các, mọi. Theo tác giả, tất cả các từ này đều đứng trƣớc DT. Vì dụ: (13) Làng này chỉ có mấy gia đính thôi. (14) Ngƣời đó thí ch lắm con. 0.2.1.6. Nguyễn Tài Cẩn Trong quyển Ngữ pháp tiếng Việt xuất bản năm 1975/96, tác giả có đề cập đến hai tiểu loại TPĐ. Đó là LTPĐ và quán từ phiếm định (QTPĐ). LTPĐ gồm nhƣ̃ng tƣ̀ chỉ lƣợng phỏng chừng nhƣ: vài, dăm, dăm ba, mƣơi, nhƣ̃ng tƣ̀ chỉ sự phân bố 3

Là “nhƣ̃ng tƣ̣ ngƣ̃ diễn tả nhƣ̃ng tƣơng quan giƣ̃a nhƣ̃ng ý nghĩ a vị

27]

.” [Lê Văn Lý , 1972,

5

(distribution): mỗi, tƣ̀ng, mọi và những từ chỉ ý nghĩa toàn bộ : tất cả , hết thảy , hầu hết , cả. Theo tác giả , các từ chỉ số lƣợng này thƣờng xuất hiện ở p

hần đầu

danh ngữ (noun phrase). Vì dụ : vài học sinh. QTPĐ (indefinite article) bao gồm các từ nhƣ̃ng, các, một. 0.2.1.7. Nguyễn Đức Dân Trong quyển Lôgích, ngữ nghĩ a và cú pháp xuất bản năm 1987, tác giả đã đề cập rất rõ đến chƣ́c năng ngữ dụng của TPĐ trong tiếng Việt. Theo tác giả, ngƣời ta có thể dùng ĐTPĐ để: – Khẳng định tuyệt đối: (15) Ở đâu cũng có ngƣời tốt. – Phủ định tuyệt đối: (16) Sinh viên nào anh Ba cũng không biết. – Bác bỏ: Bác bỏ với gì: (17) Có việc gì anh ấy không biết. Bác bỏ với đâu: (18) Tôi có quyền bính luận sở thìch của ngƣời khác đâu. Bác bỏ với sao: (19) Anh bảo nó đến sao đƣợc. Ngoài ra, một số LTPĐ khác cũng đƣợc nhắc đến . Đó là các lượng từ tồn tại (existential quantifier): một số, dăm, vài ba, mấy, nhiều, phần lớn, ít và các lượng từ phổ quát (universial quantifier): tất cả, mọi, mỗi, toàn thể, bất kỳ. (20) Tôi đã hỏi mọi ngƣời, chỉ còn cô Ba là chƣa hỏi. 0.2.1.8. Diệp Quang Ban Trong quyển Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông (tập 1) xuất bản năm 1989, tiểu loại TPĐ đƣợc tác giả nhắc đến là ĐTPĐ . Các từ này đƣợc dùng trong câu khẳng đị nh (positive/affirmative sentence) tuyệt đối và câu phủ đị nh tuyệt đối. Vì dụ: (21) Ai cũng (không) biết nó. (22) Ở đâu cũng không mƣa.

6

Ngoài ra, cũng theo tác giả, các từ này còn đƣợc dùng trong câu bác bỏ. Chẳng hạn: (23) Có ai việc gì đâu? Trong câu này, có… đâu là khuôn bác bỏ và đâu không phải là ĐT với ý nghĩa nghi vấn mà là ĐT với ý nghĩa phiếm định. 0.2.1.9. Bùi Tất Tƣơm (chủ biên), Nguyễn Văn Bằng và Hoàng Xuân Tâm Trong giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiế ng Việt xuất bản năm 1997, trong phần đại từ (ĐT), các tác giả có nhắc đến các ĐTPĐ ai, gì, đâu, nào, sao, bao giờ, bao nhiêu. Trong phần LT, các LTPĐ mỗi, từng, mấy, những, các, mọi, cả, tất cả, số đông, vô số cũng đƣợc nhắc đến. Theo các tác giả, mấy và những luôn luôn đòi hỏi DT trỏ đơn vị đi theo nó phải đƣợc hạn định loại hoặc đặc trƣng, hoặc phải đƣợc chỉ xuất (demonstrative). Vì dụ: mấy quyển sách, những tấm ảnh. Cũng theo các tác giả , các, mọi, cả, tất cả chỉ toàn bộ số phần tử trong một tập hợp đã đƣợc tiền giả định4 (presupposition), nhƣng chúng cũng không chỉ ra đƣợc một số đếm chình xác hay ƣớc chừng nào cả. Vì dụ: (24) Mọi ngƣời sinh ra đều có quyền bính đẳng. 0.2.1.10. Đỗ Thị Kim Liên Trong quyển Ngữ pháp tiếng Việt công bố năm 1999, ở phần ĐTNV, tác giả có đề cập thêm rằng ĐTNV còn có thể sử dụng nhƣ ĐT (pronoun) mang ý nghĩa phiếm đị nh. Các ĐTPĐ đƣợc dùng để chỉ sự phủ định, sự bác bỏ. Chúng là những ĐTNV chuyển hóa thành và chúng chỉ có thể tồn tại trong tiếng Việt mà thôi. Vì dụ: (25) Ai mà biết đƣợc. = Không ai biết. (26) Nói làm gì. = Không nên nói. (27) Có sao đâu. = Không việc gì. (28) Tôi đâu có biết. = Không biết. (29) Tôi có bao giờ nói. = Không nói. 4

Là “nhƣ̃ng điều không nói ra mà ngƣời ta lại nhận ra . Không nói ra nhƣng không vì không

muốn nói ra, mà ví cơ chế ngôn ngữ.” [Nguyễn Đƣ́c Dân, 2001, 14]

7

(30) Tôi nào có biết. = Không biết. Ngoài ra , một số ĐTPĐ khác mà tác giả gọi là ĐT

tổng thể cũng đƣợc nhắc đến

nhƣ: cả, tất cả, hết thảy. 0.2.1.11. Nguyễn Phú Phong Các tiểu loại TPĐ đƣợc tác giả nhắc đến trong quyể n Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt xuất bản năm 2002 là các ĐTPĐ ai, đâu, gì, các CĐTPĐ nào, kia, nọ, bao nhiêu và các QTPĐ nhƣ̃ng, các, một. 0.2.1.12. Cao Xuân Hạo (chủ biên), Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm và Bùi Tất Tƣơm Với quyển Ngữ đoạn và từ loại xuất bản năm 2005, các tác giả có đề cập đến ĐTPĐ và LTPĐ. Theo các tác giả, ĐTPĐ đƣợc dùng để chỉ những sự vật hoặc sự tình (state of affairs) phiếm định. Chúng bao gồm sáu loại: chỉ ngƣời ai, chỉ vật gì, nào, chỉ địa điểm đâu, chỉ thời gian bao giờ, chỉ số lƣợng bao nhiêu và chỉ sự tì nh sao. Trong khi đó, LTPĐ bao gồm các từ những, các, mấy, mỗi, từng, mọi, cả, tất cả. Các từ này làm lượng ngữ5 (quantifier) của DT trỏ đơn vị làm trung tâm trong danh ngữ. Chẳng hạn: mấy ngƣời thợ xây, những ngôi nhà này, từng miếng ăn, tất cả các bạn. 0.2.2. Việc nghiên cƣ́u từ phiếm đị nh trong tiếng Anh Cũng giống nhƣ TPĐ trong tiếng Việt, TPĐ trong tiếng Anh cũng đã đƣợc nhắc đến trong các sách ngữ pháp từ rất lâu, nhiều nhất và mạnh mẽ nhất là vào thập niên 70 trở về sau. Khi nhắc đến các TPĐ trong tiếng Anh thí không thể không nhắc đến các tác giả tiêu biểu sau đây: 0.2.2.1. G. Leech và J. Svartvik Trong quyển A communicative grammar of English xuất bản lần đầu vào năm 1975, các tác giả có đề cập đến bốn tiểu loại TPĐ: LTPĐ bao gồm every, all, each, both, some, any, either, many, more, most, enough, (a) few, fewer, less, several, 5

Là đị nh ngữ (determiner) chỉ lƣợng đƣ́ng phí a trƣớc.

8

much, (a) little, least, no, none, neither, lots of, a lot of, plenty of, a great deal of, a large amount of, a large number of. Các LTPĐ này có thể đƣợc dùng nhƣ CĐTPĐ. Vì dụ: (31) We didn‟t buy much food. „Chúng tôi không mua nhiều thƣ́c ăn.‟ ĐTPĐ bao gồm everybody, everyone, somebody, someone, anybody, anyone, nobody, no one, everything, something, anything, nothing và các từ vốn là LTPĐ nhƣ: all, each, both, some, any, either, many, more, most, enough, (a) few, fewer, less, several, much, none, neither. Ý n ghĩa phiếm định của c ác ĐT one, you, they cũng đƣợc nhắc đến. Vì dụ: (32) One never knows what may happen. „Ngƣời ta không bao giờ biết đƣợc chuyện gí có thể xả y ra.‟ Trạng từ phiếm định (TrTPĐ) bao gồm somewhere, anywhere, everywhere, nowhere, often, always, usually, regularly, frequently, sometime, sometimes, occasionally, rarely, seldom, ever, never. Vì dụ: (33) They regularly take their dog for a walk in the evening. „Họ thƣờng dắt chó đi bộ dạo chơi vào ban đêm.‟ QTPĐ bao gồm a, an. Các từ này đƣợc s ử dụng khi ngƣời nghe không biết đƣợc ngƣời nói muốn nói đến ngƣời nào, vật gì một cách cụ thể . Vì dụ: (34) Bill became a successful businessman. „Bill trở thành một thƣơng gia thành công.‟ 0.2.2.2. A.J. Thomson và A.V. Martinet Trong quyển A practical English grammar phát hành năm 1985, các tác giả đã đề cập đến QTPĐ a, an và các ĐTPĐ you, one, they. Ngoài ra, các tác giả cũng nêu cách dùng của một số TPĐ khác nhƣ: all, every, each, both, either, neither, some, any, no, other, another, someone, somebody, something, anyone, anybody, anything, no one, nobody, nothing, everyone, everybody, everything. Tác giả đã phân tìch cách dùng các từ này tƣơng đối rõ, đặc biệt là các từ all, every và each. All mang nghĩa một số ngƣời hay vật đƣợc xem nhƣ là một nhóm, trong khi đó every mang nghĩa một số ngƣời hay vật đƣợc xem nhƣ riêng lẻ. Nhƣng

9

trong thực tế, every và các từ ghép của nó thƣờng đƣợc dùng khi ngƣời ta nghĩ về một nhóm. Each mang nghĩa một số ngƣời hay vật đƣợc xem nhƣ riêng lẻ. Every có thể mang nghĩa này nhƣng ìt nhấn mạnh đến tình chất riêng lẻ hơn. Vì dụ: (35) Every man had a weapon. „Mọi ngƣời đàn ông đều có vũ khì.‟ Câu này ngụ ý rằng ngƣời nói đã đếm những ngƣời đàn ông, đếm những vũ khì và thấy rằng hai con số này khớp với nhau. 0.2.2.3. M. Frank Trong quyển Modern English: A practical reference guide xuất bản năm 1986, tác giả có đề cập đến QTPĐ, ĐTPĐ và LTPĐ. ĐTPĐ bao gồm someone, somebody, something, anyone, anybody, anything, no one, nobody, nothing, everyone, everybody, everything. Trong khi đó, LTPĐ bao gồm all, another, any, both, each, either, few, least, less. Các từ này, theo tác giả, vừa có thể sử dụng nhƣ ĐT vừa có thể sử dụng nhƣ TT. (36) No one passed the examination. „Không ai thi đậu cả.‟ (37) He bought some chairs. „Anh ta mua một số ghế.‟ 0.2.2.4. J. Allsop Các tiểu loại TPĐ mà tác giả đề cập đến trong quyển Students’ English grammar xuất bản năm

1992 là các QTPĐ

a, an, các ĐTPĐ someone, somebody,

Những Từ Phủ Định Trong Việt Ngữ

Nguồn: Đặc San Lại Giang Canh Dần 2010

Bài viết nầy giới hạn vào những từ phủ định chính có liên hệ tới tứ tượng tức vũ trụ giáo. Những từ phủ định thường dùng trong việt ngữ là không, khỏi, chẳng, đâu …

KHÔNG

Từ phủ định dùng phổ thông nhất là từ không như không có, không cần, không được… Không có g câm thành khôn như khôn lườn, khôn dò, khôn nguôi. Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đoàn Thị Điểm có câu:

Bộ khôn bằng ngựa, thuỷ khôn bằng thuyền.

Với k câm thành hông, “Hổng như”, “hổng thèm”, “hổng biết”, “hổng được đâu”… Dạng nầy dùng nhiều ở miền Nam. Trong Từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes từ không viết dưới dạng “khoũ”. Dấu ngã tương đương với ng.

Theo biến âm kh = n như khô = nỏ, khện = nện, khơm khớp = nơm nớp, ta có Việt ngữ không = Pháp ngữ “non” (phát âm “nông”).

Hiển nhiên không chính là không có gì, số không (O), hư không, không gian trống không. Vậy từ phủ định không mang ý nghĩa hư không, trống không tức Vô cực của Vũ Trụ luận.

Theo âm dương đề huề, không có trung tính (neutral) tức Vô cực. Thường thường không mang âm tính hoặc thái âm (nước) hay thiếu âm (khí, gió). Trong xã hội duy dương hiện nay, dĩ nhiên không ngả về dương của âm tức thiếu âm, không là không gian, khí gió. “

KHỎI

Từ khỏi dùng như tiếng phủ định như:

* khỏi

*khỏi cần: khỏi cần thêm nước vào làm gì.

*khỏi phải: khỏi phải đến đó làm gì…..

Từ khỏi đôi khi dùng chung với từ không như như một tiếng ghép điệp nghĩa “không khỏi” để nhấn mạnh ý nghĩa phủ định kép mang tính quyết liệt hơn như nó không khỏi bị tù.

Thay k bằng c ta có khỏi = chỏi, chói. Chỏi là chống lại như thấy qua từ kép điệp nghĩa chống chỏi. Chỏi có nghĩa chống lại không hợp với c1i màu nầy chỏi với màu kia tức không hợp với nhau. Chỏi gần âm với chói là sáng, mặt trời cho thấy từ chỏi mang dương tính thuộc về lửa mặt trời, thái dương.

CHẲNG

Từ chẳng dùng như một tiếng phủ định như:

*chẳng cần: chẳng cần phải mặc áo lạnh.

*chẳng thà: chẳng thà nhịn ăn còn hơn.

* chẳng được đâu: nó chẳng làm được đâu.

* chẳng có (ai): chẳng có ai đến cả.…..

Những dạng biến âm giản lược của chẳng là chả, chớ như chả thèm ăn, chớ có lo… Biến âm nguyên từ theo ch = đ như chuôi = đuôi (dao), ta có chẳng = đặng = đừng: đừng có tin nó. Đôi khi người ta nghe cả ba từ cùng một lúc ‚chẳng đặng nừªng‛ theo nhịp điệu biến âm: thấy thế nên chẳng đặng đừng được.

Theo biến âm ch = s như chữa = sửa, ta có Việt ngữ chẳng = Pháp ngữ ‚sans‛, Ý ngữ ‚senza‛, Bồ ngữ ‚sem‛ là không. Chẳng nói trại đi thành ‚ch©¡n‛ như thấy qua câu thơ trong Bạch Viên Tôn Các của một tác giả vô danh:

Đoái lời nguyện ước, càng chua xót,ĐÂU Tưởng nỗi sinh ly, chỉn ngại ngùng.

Từ chỉn biến âm với Tây ban Nha, Mễ ngữ ‚sin‛ là không. Hiển nhiên chẳng biến âm với chăng, trăng (moon). Trăng biểu tượng cho âm, thái âm (xem Những Từ Nghi vấn trong Tiếng Việt Huyền Diệu, trang 221). “

Đâu dùng như một từ nghi vấn, nhưng cũng dùng như một từ phủ định như :

*đâu có: Nó đâu có nghe lời.

*đâu được:

– Anh để tôi trả tiền. – Đâu được.

*đâu dễ…

Theo biến âm đ = n như đây = nầy, ta có đâu = nâu = nào. Nào cũng có nghĩa như đâu, ví dụ Đâu có ai = Nào có ai.

NỎ

Như đã biết ở chương Những Từ Nghi Vấn Trong Tiếng Việt từ đâu liên hệ với đá, đất, thiếu dương tức âm của dương.

Ngoài những từ phủ định phổ thông vừa kể còn có những từ chỉ dùng ở một vài địa phương. Những từ nầy có thể là những phương ngữ hay là những tiếng cổ Việt còn sống sót lại tại những địa phương đó vì lý do nầy hay lý do khác như vùng đó “hẻo lánh” hay “tồn cổ”, “bảo thủ nên duy trì truyền thống Việt” … Xin kể một vài từ: “

Từ phủ định nỏ có nghĩa là không còn dùng nhiều ở cùng phía bắc Miền Trung như Thanh Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị…

Hoặc

(Gió nỏ triềng một hột là Gió không tràn một hột)

Nỏ biến âm với nõ cũng có nghĩa là không, không màng: nõ cần, nõ lo, nõ thèm (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị). Nỏ cũng biến âm với nọ có nghĩa là không, chẳng:

Đưa anh ra tới làng Hồ,Em mua trái mít, em vồ trái thơm.Anh về em nọ dám đưa.Hai hàng châu lệ như mưa tháng mười(Ca Dao)

Và trong Nhị Độ Mai có câu

Lọ là thét mắng cặp rèn,Một lời xía cạnh, bằng ngàn roi song. Có việc gì nả? Anh có việc gì không?

Nọ người khoác nách, nọ người vỗ tay.(Câu 1696)

Theo quy luật nam hoá dương hoá n = l, mọ = lọ. Từ lọ cũng mang nghĩa phủ định.

Với n câm, ta có nỏ = ỏ. Ỏ cũng có nghĩa là không. Theo Lê Ngọc Trụ trong Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị ỏ là tiếng nôm có nghĩa là cần: ỏ bao, ỏ vào… Ỏ là tiếng xưa, ít dùng. Ỏ hiển nhiên biến âm với o, có một diện là số không, không có gì cả. O là không.

Theo biến âm o = a như hột = hạt, ta có nỏ = nả. Nả cũng có nghĩa là không. Trong từ điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ nả là không:

Những từ nỏ, nõ, nọ, lọ, nả, nào… ruột thịt với Anh ngữ n o, not, none, nothing, nay, nil, neither; với Pháp ngữ n on, ne (pas); với Đức ngữ nei; với Ý ngừ no; với Bồ ngữ não; Tây Ban Nha nada; với phạn ngữ na, nà; với gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *ne.

Qua biến âm cùng vần giữa nỏ, nõ, nọ… với Pháp ngữ “non” và biến âm theo n = kh như nỏ = khỏ (bưởi khỏ là bưởi khô), khô, ta có nỏ = Pháp ngữ non = không, ta thấy từ nỏ, nõ, nọ có thể là một từ phủ định rất cổ của Việt ngữ, liên hệ ruột thịt với những từ phủ định của An-Au ngữ vừa nêu trên.

Tóm lại ta thấy khởi sự từ chữ O là không, biến âm thành Ỏ, thành Nỏ, Nõ, Nọ, Lọ, Nả, Nào, thành Đâu (n = đ), Đặng, Đừng, thành Chẳng (đ = ch), Chả, Chớ, thành Không, Khỏi (ch = kh). Ta cũng thấy rõ như ban ngày, các từ phủ định của Việt ngữ tiến hoá theo Vũ Trụ Tạo Sinh, theo Dịch Lý.

Biến âm cùng vần: khởi sự từ O, Ỏ Vô cực biến hoá thành Nỏ (vật nhọn như ná, nỏ là khô, lửa) như thế Nỏ là dương, tượng Lửa (thái dương). Nõ là cọc biểu tượng cho Núi nọc, Đất dương (thiếu dương). Nọ là Lọ, có một nghĩa là chai, lọ vật đựng biểu tưởng cho âm, Nước (thái âm). Nả, Lả, Là liên hệ tới bay như con cò bay lả, bay la, bay là là… liên hệ tới Gió (thiếu âm). Tóm lại từ phủ định khởi sự từ hư vô, Vô Cực O rồi đến Lưỡng nghi: cực dương có Nỏ (không, cùng âm với lọ) và kế tiếp là Tứ Tượng: tượng lửa Nỏ (không, cùng âm với nỏ là khô, lửa); tượng nước Nọ (không, cùng âm với lọ, vật đựng nước); tượng đất Nõ (không cùng âm với nõ, núi noc) và tượng khí gió Nã (không cùng âm với lả, là liên hệ với gió).

Biến âm theo vần khác nhau: như đã thấy O, Ỏ, Vô cực biến hoá thành Đâu là Dá, Dất, thiếu dương; thành Chẳng, Trăng biểu tượng cho Nước, thái âm; thành Không, Không khí, Gió, thiếu âm và thành Khỏi, Chỏi, Chói, Lửa, thái dương.

Rõ như ban ngày các từ phủ định trong Việt ngữ liên hệ tới trời đất vũ trụ, đều liên hệ tới Vũ Trụ luận, với Dịch lý. “

Các Loại Câu Phủ Định Trong Tiếng Anh

I. Cách tạo câu phủ định?

Để tạo câu phủ định đặt not sau trợ động từ hoặc động từ be . Nếu không có trợ động từ hoặc động từ be thì dùng dạng thức thích hợp của do, does hoặc did để thay thế.

Ví dụ:

II. Cấu trúc câu phủ định trong tiếng Anh

1. Thì Hiện tại đơn

– Câu khẳng định:

+ Với động từ thường: Subject + Verb 1 + Objects.

+ Với động từ To be: Subject + Be + Noun + Objects / Subject + Be + Adjective + Objects

– Câu phủ định trong tiếng Anh:

+ Với động từ thường: Subject + Don’t / Doesn’t + Verb (bare) + Objects.

+ Với động từ To be: Subject + Be Not + Noun + Objects / Subject + Be Not + Adjective + Objects.

– Câu nghi vấn :

+ Với động từ thường:

Do / Does + Subject + Verb (bare) + Objects.

+ Với động từ To be:

Am + I + Noun / Adjective + Objects.

Is + He / She / It + Noun / Adjective + Objects.

Are + You / They / We + Noun / Adjective + Objects.

2. Thì hiện tại tiếp diễn

– Câu khẳng định:

I + Am + V-ing + Objects.He / She / It + Is + V-ing + Objects.You / We / They + Are + V-ing + Objects

– Câu phủ định: Dạng này thì bạn chỉ cần thêm “not” phía sau to-be.

– Câu nghi vấn: Chuyển to be ra ngoài đầu câu, còn bên trong không có thay đổi.

3. Thì Hiện tại Hoàn thành

– Câu khẳng định: Subject + Has / Have + Verb 3 + Objects.

– Câu phủ định: Dạng này ta chỉ cần thêm “not” sau “has” hoặc “have”, phía cuối câu thêm từ “yet” để nhấn mạnh.

– Câu nghi vấn: Has / Have + Subject + Verb 3 + Objects + Yet?

4. Thì hiện tại hoàn thành tiếp diễn

– Câu khẳng định: Subject + Has / Have + Been + V-ing + Objects

– Câu phủ định: Dạng phủ định và dạng nghi vấn cũng có công thức tương tự như thì hiện tại hoàn thành, chỉ khác là thay vì ở giữa câu là Verb 3 thì ở đây sẽ là Been + V-ing.

– Câu nghi vấn: Dạng phủ định và dạng nghi vấn cũng có công thức tương tự như thì hiện tại hoàn thành, chỉ khác là thay vì ở giữa câu là Verb 3 thì ở đây sẽ là Been + V-ing.

III. Các dạng câu phủ định trong tiếng Anh

1. Sử dụng Some, Any để nhấn mạnh câu phủ định

Đặt any trước danh từ làm vị ngữ sẽ nhấn mạnh câu phủ định. Cũng có thể dùng no + danh từ hoặc a single + danh từ số ít để nhấn mạnh một câu phủ định.

Some trong câu khẳng định sẽ được chuyển thành any/no + danh từ/a single + danh từ số ít trong câu phủ định.

Ví dụ:

2. Cấu trúc của câu phủ định song song

– Negative… even/still less/much less + noun/ verb in simple form: không … mà lại càng không. (Mang ý nghĩa nhấn mạnh)

Ví dụ: He don’t like reading novel, much less science book. (Anh ấy không thích đọc tiểu thuyết lại càng không thích đọc sách khoa học)

3. Phủ định kết hợp với so sánh

– Negative + comparative (more/ less) = superlative (Mang nghĩa so sánh tuyệt đối)

Ví dụ:

I couldn’t agree with you less = I absolutely agree with you. (Tôi hoàn toàn đồng ý với cậu)

4. Phủ định không dùng thể phủ định của động từ

– Có một số phó từ trong tiếng Anh mang nghĩa phủ định. Khi đã dùng nó thì trong câu không dùng cấu tạo phủ định của động từ nữa.

– Chẳng hạn một số từ như:

Hardly, barely, scarcely = almost nothing/ almost not at all = hầu như không.Hardly ever, seldom, rarely = almost never = hầu như không bao giờ.

Ví dụ:

5. Thể phủ định của một số động từ đặc biệt

– Đối với những động từ như: think, believe, suppose, imagine + that + clause. Khi chuyển sang câu phủ định, phải cấu tạo phủ định ở các động từ đó, không được cấu tạo phủ định ở mệnh đề thứ hai.

Ví dụ: I don’t believe she will come here (Tôi không tin là cô ta sẽ đến đây)

6. Một số các câu hỏi ở dạng phủ định lại mang ý nghĩa khác (không dùng dấu ?)

– Nhấn mạnh sự khẳng định của người nói:

Ví dụ: Shouldn ‘t you put on your hat, too! (Thế thì anh cũng đội luôn mũ vào đi)

– Dùng để tán dương:

Ví dụ: Wouldn’t it be nice if we didn’t have to work on Saturday. (Thật là tuyệt vời khi chúng ta không phải làm việc ngày thứ 7)

7. Cách dùng Not … at all; at all trong câu phủ định

– Not … at all: Chẳng chút nào. Chúng thường đứng cuối câu phủ định

Ví dụ: I didn’t understand anything at all. (Tôi chả hiểu gì cả)

– At all: còn được dùng trong câu hỏi, đặc biệt với những từ như if/ever/any…

Ví dụ: Do you play piano at all? (Anh có chơi đàn piano được chứ?)

8. Câu phủ định với “No matter…”

– Cấu trúc:

+ No matter + who/what/which/where/when/how + Subject + verb in present: Dù có… đi chăng nữa… thì

+ No matter who = whoever; No matter what = whatever

Ví dụ: No matter how fast time flies, I still love him. (Bất kể thời gian trôi nhanh như thế nào, tôi vẫn yêu anh ấy)

Các Dấu Câu Trong Tiếng Việt (Phần 4)

7. Dấu hai chấm

7.1. Nói chung, dấu hai chấm dùng để báo hiệu một điều trình bày tiếp theo sau và có tác dụng thuyết minh đối với một điều đã trình bày trước.

7.1.1. Điều thuyết minh là một lời thuật lại theo lối trực tiếp.

Ví dụ:

Hay theo lối gián tiếp:

Ví dụ:

Kha nghĩ: ba giờ đi.

(Nguyễn Đình Thi)

7.1.2. Điều thuyết minh có tác dụng bổ sung, giải thích một từ hay một vế ở trước.

Ví dụ:

Chiến công kì diệu mùa xuân 1975 đã diễn ra trong thời gian rất ngắn: 55 ngày đêm.

(Võ Nguyên Giáp & Văn Tiến Dũng)

Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya…

(Xuân Diệu)

7.2. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu hai chấm, và cần có ngữ điệu thích hợp đối với điều thuyết minh.

8. Dấu ngang

8.1. Dấu ngang dùng để chỉ ranh giới của thành phần chú thích.

Ví dụ:

Chồng chị – anh Nguyễn Văn Dậu – tuy mới hai sáu tuổi nhưng đã học nghề làm ruộng đến mười bảy năm.

(Ngô Tất Tố)

8.2. Dấu ngang còn dùng để:

8.2.1. Đặt trước những lời đối thoại.

Ví dụ:

– Hai bác đã đặt tên cho cháu chưa?

– Rồi.

8.2.2. Đặt ở đầu những bộ phận liệt kê, mỗi bộ phận trình bày riêng thành một dòng.

Ví dụ:

8.2.3. Đặt ở giữa hai hay ba, bốn tên riêng, hay ở giữa con số để ghép lại, để chỉ một liên danh, một liên số.

Ví dụ:

Đường Hà Nội – Huế – Sài Gòn

Xô viết Nghệ – Tĩnh

Thời kì 1939 – 1945

8.2.4. Cần phân biệt dấu ngang là một dấu câu với dấu gạch nối không phải là dấu câu.

Dấu gạch nối, hiện nay, thường được dùng trong những trường hợp phiên âm tên người, tên địa phương nước ngoài.

Ví dụ: Lê-nin, Lê-nin-grát …

Dấu gạch nối cũng còn được dùng trong những từ chung phiên âm từ tiếng nước ngoài, ví dụ: pô-pơ-lin …

Cho nên, có khi, cần phân biệt dấu ngang với dấu gạch nối bằng độ dài của dấu đó (dấu ngang dài hơn).

Ví dụ: Chủ nghĩa Mác – Lê-nin

9. Dấu ngoặc đơn

9.1. Dấu ngoặc đơn cũng dùng để chỉ ranh giới của thành phần chú thích.

Ví dụ:

Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tôi làm thuê ở Pa-ri, khi thì làm cho một cửa hàng phóng đại ảnh, khi thì vẽ “đồ cổ mĩ nghệ Trung Hoa” (do một xưởng của người Pháp làm ra!).

(Hồ Chí Minh)

9.2. Sự khác nhau giữa dấu ngang và dấu ngoặc đơn có khi không được rõ; theo thói quen, người dùng dấu này, người dùng dấu kia, đối với thành phần chú thích.

Tuy vậy, cũng có thể nhận thấy giữa hai loại dấu đó có sự khác nhau sau đây:

Khi thành phần chú thích có quan hệ rõ với một từ, một ngữ ở trước nó, thì thường dùng dấu ngang; nếu quan hệ đó không rõ thì thường dùng dấu ngoặc đơn.

Ví dụ:

Tôi vừa gặp lại anh Thân – người chỉ huy đơn vị của tôi, hồi chiến tranh chống thực dân Pháp.

Anh ấy không đến dự đám cưới của Lan (bảo là bận!) nhưng mọi người đều hiểu anh ấy không tán thành đám cưới này.

Một trường hợp đáng chú ý là dấu ngoặc đơn có thể dùng để đóng khung cho một từ hay một ngữ có tác dụng chú thích cho một từ không thông dụng (từ cổ, từ địa phương…).

Ví dụ:

Tiếng trống của phìa (lí trưởng) thúc gọi nộp thuế vẫn rền rĩ.

(Tô Hoài)

Một loại dấu đôi nữa, có mở ra rồi có đóng vào giống như dấu ngang và dấu ngoặc đơn, và cũng được dùng để chú thích thêm trong một số trường hợp đặc biệt, là dấu móc: [].

Trong trường hợp nhắc lại một văn bản, mà cần chú thích, đồng thời lưu ý người đọc rằng chú thích đó là ở ngoài văn bản thì dùng dấu móc.

Ví dụ:

Mậu thân Thuận Thiên năm thứ nhất [1428]… người Minh đã về nước, vua bèn thống nhất thiên hạ, lấy năm ấy là năm dẹp yên.

(Dịch “Đại Việt Sử kí toàn thư”)

3. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu ngoặc đơn và cũng như trong trường hợp dấu ngang, ngữ điệu phải thích hợp đối với thành phần chú thích.

10. Dấu ngoặc kép

10.1. Dấu ngoặc kép dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp.

Ví dụ:

Sau khi đến được ba ngày, anh hỏi tôi: “Anh Dân, anh có biết chữ quốc ngữ không?”. Tôi hơi thẹn nhưng trả lời thành thật: “Không, tôi không biết”.

(Trần Dân Tiên)

Có khi, ý hoặc lời được thuật lại là một danh ngôn, một khẩu hiệu,…

Ví dụ:

Chế độ ta là chế độ mới, nhân dân ta đang trau dồi đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa của những người lao động “ta vì mọi người, mọi người vì ta”.

(Hồ Chí Minh)

10.2. Dấu ngoặc kép còn dùng để dẫn lại với thái độ mỉa mai, một từ hay ngữ do người khác dùng; trong trường hợp này, dấu ngoặc kép còn được gọi là dấu “nháy nháy”.

Ví dụ:

Chúng đề xướng nào là văn nghệ “chủ quan”, “viễn kiến”, nào là triết lí “duy linh”…

(Trường Chinh)

Bạn đang xem bài viết Từ Phiếm Định Trong Tiếng Việt trên website Drosetourmanila.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!