Top 2 # Ý Nghĩa Từ Định Giá Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Drosetourmanila.com

Ý Nghĩa Của Đánh Giá Kiểm Định Chất Lượng

* Khái niệm.

– Chất l­ượng giáo dục – đào tạo có thể đánh giá trực tiếp qua sản phẩm đào tạo, qua chất lư­ợng sv, hs lên lớp, tốt nghiệp, tuy nhiên cũng có thể đánh giá gián tiếp qua các điều kiện để đảm bảo chất lư­ợng.

– Kiểm định chất lư­ợng tiếp cận theo cách phối hợp hai cách đánh giá trên.

– Kiểm định chất lư­ợng giáo dục – đào tạo là một hệ thống tổ chức và giải pháp để đánh giá chất lư­ợng giáo dục – đào tạo ( đầu ra) và các điều kiện bảo đảm chất lư­ợng giáo dục – đào tạo theo các chuẩn mực đ­ược quy định.

ư– Những ch­ương trình giáo dục – đào tạo và cơ sở đào tạo đạt chuẩn sau khi kiểm định, đư­ợc thông báo công khai cho ng­ười học, ng­ ời sử dụng lao động và toàn xã hội như một bằng chứng bảo đảm cho chất lư­ợng giáo dục – đào tạo của các cơ sở và các ch­ương trình đào tạo.

* ý nghĩa của đánh giá, kiểm định chất lượng

– ý nghĩa của đánh giá:

+ Giúp GV xác nhận thực trạng dạy và học. Giúp giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy, điều khiển hoạt động học để hoàn thiện hoạt động dạy học

+Giúp nhà tr­ường tự đánh giá chất l­ợng dạy học và giáo dục học sinh.

+ Đối với người học: điều chỉnh quá trình học

+ Đối với người quản lý: Nắm được chất lượng của việc dạy, việc học. Điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học

* ý nghĩa.

Kiểm định chất l­ượng mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là sv, hs sự đảm bảo chắc chắn một trư­ờng học đã d­ợc chứng minh thỏa mãn các yêu cầu và tiêu chí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng trư­ờng này sẽ tiếp tục đạt các yêu cầu và tiêu chí đã đề ra.

Kiểm định chất lư­ợng không những mang lại cho cộng đồng bằng chứng về chất l­ượng đào tạo nhà trường mà còn mang lại cơ hội và động cơ để nâng cao chất l­ượng cho các tr­ờng đã qua kiểm định. Một trư­ờng học chỉ đ­ợc công nhận về chất l­ượng khi đáp ứng đ­ược các yêu cầu và tiêu chí của hội đồng kiểm tra và chịu sự kiểm tra của các cán bộ đánh giá giàu kinh nghiệm và hiểu các yêu cầu kiểm định của giáo dục đại học.

Kiểm định chất l­ượng mang lại cho các tr­ường cơ hội tự phân tích đánh giá để có những cải tiến về chất lư­ợng.

Chu Văn Quý @ 14:17 18/01/2011 Số lượt xem: 8175

Định Mức Là Gì? Ý Nghĩa Của Từ, Ví Dụ Và Giải Thích

Không có gì thú vị hơn là viết về những gì các tiêu chuẩn là. Xem xét ý nghĩa của từ, ví dụ, từ đồng nghĩa và nói về số phận của khái niệm trong thế giới hiện đại.

Giá trị

Định nghĩa của “định mức” là vô cùng đa dạng. Do đó, để đẩy ra khỏi một cái gì đó, chúng ta sẽ thấy phổ của các giá trị có thể:

Thiết lập pháp lý, được công nhận, theo thói quen, nói chung là ràng buộc của sự vật. Đối với anh, chuẩn mực là uống một ly kefir mỗi tối trước khi đi ngủ.

Biện pháp cài đặt, giá trị trung bình của một cái gì đó. Càng Ivanov đang trồng 5 cây, Petrov là một, trung bình họ hoàn thành định mức 3 cây mỗi ngày.

Có một biểu thức là Bình thường, có thể được quy cho cả hai giá trị thứ nhất và thứ hai, bởi vì nó nắm bắt trạng thái thông thường của một ai đó hoặc một cái gì đó. Một mặt, đây là thứ tự thông thường của sự vật, và mặt khác, trạng thái trung bình của một vật hoặc người.

Ví dụ:

Sầu – Làm thế nào là Petrov và khó tiêu của mình?

– Alexey Semenovich, bình thường. Anh ấy đã ở bác sĩ vào một ngày khác.

Là bản chất của câu hỏi được làm rõ, các tiêu chuẩn là gì? Chúng tôi hy vọng như vậy.

Như mọi khi, để củng cố việc sở hữu kiến ​​thức mới, chúng tôi sẽ không để anh hùng nghiên cứu của chúng tôi một mình và cho anh ấy bạn bè dưới dạng từ thay thế, tương tự ngữ nghĩa.

Từ đồng nghĩa

Một từ có thể có bất kỳ thay thế theo ngữ cảnh. Chúng tôi sẽ chỉ tập trung vào những điều quan trọng nhất. Họ đây rồi:

Đây là những từ đồng nghĩa gần nhất. Và một lời khuyên khác: nếu đối tượng nghiên cứu có ích cho người đọc, thì hãy để anh ta lựa chọn cẩn thận thay thế. Định mức là gì? Đây là một từ cực kỳ mơ hồ, vì vậy bạn cần cảnh giác với nó. Từ đồng nghĩa thường biểu cảm hơn.

Định mức số lượng

Định mức có thể vừa là một khái niệm khách quan, vừa là một chỉ số chủ quan. Ví dụ, nhân viên của tạp chí Thanh niên hôm qua, hôm nay, ngày mai có 12 người, và vấn đề này bao gồm 36 bài báo. Mỗi nhân viên cần viết 3 bài viết mỗi tháng để tạp chí không thất bại về tốc độ thực hiện và tài liệu được giao đúng hạn.

3 bài báo nên là sắt. Với những số liệu này, không thể đàm phán hoặc bằng cách nào đó thay đổi. Và tất cả bởi vì tạp chí không phải là một người, mà là một loại thực thể trừu tượng, trái lại, tự nó quy định mọi người. Trên bất kỳ sản xuất, thậm chí trí tuệ, có chỉ số hiệu suất.

Trong thời Xô Viết, các số liệu tồn tại nhiều hơn cho các nhà chức trách hơn là kết quả thực tế, nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng. Một ví dụ nổi tiếng là Stakhanov, người cuối cùng bắt đầu có nghĩa là người đánh trống lao động, người hoàn thành hai hoặc ba chỉ tiêu mỗi ca. Và nếu bạn xem phim Liên Xô về công nhân (rõ ràng là họ có một mục tiêu ý thức hệ nhất định), thì ở đó những người làm việc chăm chỉ khá không chính thức về hồ sơ cá nhân của họ.

Đúng vậy, khi sức mạnh của những người Xô Viết trở nên suy đồi, ý nghĩa của từ “Norm Norm” ngày càng mất đi cường độ cảm xúc. Và ở nước Nga hiện đại, chế độ độc tài của giấy tờ đã thay thế bản chất sống của thực tế. Đúng vậy, đây là một căn bệnh cũ. Để xác minh điều này, chỉ cần đọc hoặc đọc lại N.V. Gogol và linh hồn đã chết của anh ta.

Vì vậy, trong mọi trường hợp, câu hỏi chính: định mức là gì và nó là gì? Bởi vì nó là chỉ số định lượng quyết định mục tiêu của tổ chức và mức độ hiệu quả của nó. Đúng vậy, tất cả chúng ta đều biết rằng một hệ thống như vậy là không hoàn hảo, và một số đồng chí đặc biệt thông minh dễ dàng thao túng nó, nhưng đây là một câu chuyện khác.

Chuẩn mực xã hội

Như người đọc có thể đã đoán, các chuẩn mực hành vi là các cơ sở chủ quan phụ thuộc vào xã hội, môi trường và thời gian.Các đơn đặt hàng như vậy là điện thoại di động, mặc dù tính tương đối của chúng là tùy ý. Ví dụ, bao xa là có thể vượt qua truyền thống? Điều này là khá khó khăn và canon công khai dường như không quá tầm thường với người đi ngược dòng. Một chuẩn mực xã hội là một quy ước ở một mức độ nhất định. Người đọc có thể dễ dàng thấy điều này nếu anh ta ít nhất nhìn vào thời trang.

Vào đầu thế kỷ 20, việc một người phụ nữ mặc quần dài là không đứng đắn, vào thời đó người ta tin rằng quần là một yếu tố nam độc quyền của tủ quần áo. Bây giờ thì sao Phụ nữ kinh doanh thích phù hợp với kinh doanh chính thức với quần tây.

Ví dụ, một người đàn ông ăn mặc theo phong cách châu Âu sẽ được xem xét và trông bất thường trong một bộ lạc châu Phi. Điều tương tự cũng đúng với một người châu Phi trong trang phục dân gian ở giữa Paris. Chúng tôi không mệt mỏi khi nhắc nhở rằng một chuẩn mực xã hội là một hiện tượng chuyển động và phụ thuộc vào các giá trị và tâm trạng cơ bản của thời đại trị vì ở đây và bây giờ.

“Norm” – một khái niệm bí ẩn

Thật đáng tiếc hay không, nhưng bây giờ thật khó để trả lời câu hỏi định mức là gì, bởi vì không ai thực sự biết điều này. Các giá trị cơ bản của một người bình thường (công việc, gia đình, tình bạn) bị bào mòn trong dòng chảy công nghệ hiện đại của cuộc sống. Thể chế hôn nhân đang khủng hoảng, người giàu thích có con, nhưng không sống chung. Một số thực hành hôn nhân khách.

Công việc được chia thành các dự án. Bây giờ không ai mơ ước được làm việc trong một văn phòng trong 20 năm, sau đó nghỉ hưu và chết bình yên trên một chiếc giường ấm áp được bao quanh bởi những người thân.

Tình bạn? Đơn giản là không có thời gian cho nó – một người đang sống cuộc sống quá bận rộn.

Người đọc sẽ nói rằng mọi thứ quá ảm đạm. Không hề. Bây giờ là lúc một người giải quyết nhiều vấn đề riêng lẻ, không dựa vào ma trận làm sẵn do xã hội đề xuất.

Cụm Từ Cố Định: Phân Loại

Mặc dù có nhiều điểm giống nhau về nguyên tắc, nhưng cách xây dựng, tạo lập cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau không hoàn toàn như nhau. Vì thế, cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau có thể được phân loại khác nhau. Chẳng hạn, N.M. Shanskij (1985) đã phân loại các cụm từ cố định trong tiếng Nga hiện đại như sau:

Phân loại theo mức độ tính chất về ngữ nghĩa: tách ra 5 loại;

Phân loại theo đặc điểm các từ trong thành phần của cụm từ cố định: tác ra 4 loại;

Phân loại theo mô hình cấu trúc: tách ra 16 loại;

Phân loại theo nguồn gốc: tách ra 6 loại.

Việc nghiên cứu cụm từ cố định của tiếng Việt tuy chưa thật sâu sắc và toàn diện nhưng đã có không ít kết quả công bố trong một số giáo trình giảng dạy trong nhà trường đại học và tạp chí chuyên ngành.

Nếu tạm thời chấp nhận tên gọi mà chưa xác định ngay nội dung khái niệm của chúng, thì có thể tóm tắt một trong những bức tranh phân loại cụm từ cố định tiếng Việt như sau:

1. Thành ngữ

1.1. Định nghĩa

Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc/và gợi cảm.

Ví dụ: Ba cọc ba đồng, Chó cắn áo rách, Nhà ngói cây mít, Bán bò tậu ễnh ương, Méo miệng đòi ăn xôi vò, Ông mất của kia bà chìa của nọ, Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông,…

Các cụm từ cố định (thành ngữ) như thế đều thoả mãn định nghĩa nêu trên. Chúng là những thành ngữ điển hình.

1.2. Phân loại

Có nhiều cách phân loại thành ngữ. Trước hết, có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung lẫn hình thức) để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ.

1.2.1. Thành ngữ so sánh

Loại này bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh. Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Cưới không bằng lại mặt,…

Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh thông thường khác:

A ss B: Ở đây A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, còn ss là từ so sánh: như, bằng, tựa, hệt,…

Tuy vậy, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng, không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ. Chúng có thể có các kiểu:

A.ss.B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh. Ví dụ: Đắt như tôm tươi, Nhẹ tựa lông hồng, Lạnh như tiền, Dai như đỉa đói, Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông, Lừ đừ như ông từ vào đền,…

(A).ss.B: Ở kiểu này, thành phần A của thành ngữ không nhất thiết phải có mặt. Nó thể xuất hiện hoặc không, nhưng người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành ngữ ở dạng toàn vẹn. Ví dụ: (Rẻ) như bèo, (Chắc) như đinh đóng cột, (Vui) như mở cờ trong bụng, (To) như bồ tuột cạp, (Khinh) như rác, (Khinh) như mẻ, (Chậm) như rùa,…

ss.B: Trường hợp này, thành phần A không phải của thành ngữ. Khi đi vào hoạt động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tuỳ nghi, nhưng nhất thiết phải có. A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ. Ví dụ:

Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: Như tằm ăn rỗi, Như vịt nghe sấm, Như con chó ba tiền, Như gà mắc tóc, Như đỉa phải vôi, Như ngậm hột thị,…

Đối với thành ngữ so sánh tiếng Việt, có thể nêu một vài nhận xét về cấu trúc của chúng như sau:

Vế A (vế được so sánh) không phải bao giờ cũng buộc phải hiện diện trên cấu trúc hình thức, nhưng nội dung của nó thì vẫn luôn luôn là cái được “nhận ra”. A thường là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặc trưng hoặc trạng thái hành động,… nào đó. Rất ít khi chúng ta gặp những khả năng khác.

Từ so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt phổ biến là từ như; còn những từ so sánh khác, chẳng hạn như tựa, tựa như, như thể, bằng, tày,… (Gương tày liếp, Tội tày đình, Cưới không bằng lại mặt,…) chỉ xuất hiện hết sức ít ỏi.

Vế B (vế để so sánh) luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết minh, làm rõ cho A, mặt khác, nhiều khi nó lại chỉ bộ lộ ý nghĩa của mình trong khi kết hợp với A, thong qua A. Ví dụ: Ý nghĩa “lạnh” của tiền chỉ bộ lộ trong Lạnh như tiền mà thôi. Các thành ngữ Nợ như chúa Chổm, Rách như tổ đỉa, Say như điếu đổ, Say khướt cò bợ,… cũng tương tự như vậy.

Mặt khác, các sự vật, hiện tượng, trạng thái,… được nêu ở B phản ánh khá rõ nét những dấu ấn về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc Việt. Đối chiếu với thành ngữ so sánh của các ngôn ngữ khác, ta dễ thấy sắc thái dân tộc của mỗi ngôn ngữ được thể hiện một phần ở đó.

Vế B có cấu trúc không thuần nhất:

B có thể là một từ. Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Nợ như chúa Chổm, Đắng như bồ hòn, Rẻ như bèo, Khinh như mẻ,…

B có thể là một kết cấu chủ-vị (một mệnh đề). Ví dụ: Như đỉa phải vôi, Như chó nhai giẻ rách, Lừ đừ như ông từ vào đền, Như thầy bói xem voi, Như xầm sờ vợ,…

Ngoài những điều nói trên, khi đối chiếu các thành ngữ so sánh với cấu trúc so sánh thông thường của tiếng Việt, ta thấy:

Các cấu trúc so sánh thông thường có thể có so sánh bậc ngang hoặc so sánh bậc hơn. Ví dụ: Anh yêu em như yêu đất nước (so sánh bậc ngang), Dung biết mình đẹp hơn Mai (so sánh bậc hơn),…

Từ so sánh và các phương tiện so sánh khác (chỗ ngừng, các cặp từ phiếm định hô ứng,…) được sử dụng trong các cấu trúc so sánh thông thường, rất đa dạng: như, bằng, tựa, hệt, giống, chẳng khác gì, y như là, hơn, hơn là,…

Một vế A trong cấu trúc so sánh thông thường có thể kết hợp với một hoặc hai, thậm chí một chuỗi nhiều hơn các vế B qua sự nối kết với từ so sánh. Ví dụ:

Kết hợp với một B: Cổ tay em trắng như ngà /Đôi mắt em liếc như là dao cau.

Kết hợp với một chuỗi B: Những chị cào cào (…) khuôn mặt trái xoan như e thẹn, như làm dáng, như ngượng ngùng.

Cấu trúc so sánh thông thường rất đa dạng, trong khi đó thành ngữ so sánh ít biến dạng hơn và nếu có thì cũng biến dạng một cách giản dị như đã nêu trên. Lí do chính là ở chỗ thành ngữ so sánh là cụm từ cố định, chúng phải chặt chẽ và bền vững về mặt cấu trúc và ý nghĩa.

1.2.2. Thành ngữ miêu tả ẩn dụ

Thành ngữ miêu tả ẩn dụ là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ, nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ.

Xét về bản chất, ẩn dụ cũng là so sánh, nhưng đây là so sánh ngầm, từ so sánh không hề hiện diện. Cấu trúc bề mặt của thành ngữ loại này không phản ánh cái nghĩa đích thực của chúng. Cấu trúc đó, có chăng chỉ là cơ sở để nhận ra một nghĩa “sơ khởi”, “cấp một” nào đó, rồi trên nền tảng của “nghĩa cấp một” này người ta mới rút ra, nhận ra và hiểu lấy ý nghĩa đích thức của thành ngữ.

Ví dụ: Xét thành ngữ ” Ngã vào võng đào“. Cấu trúc của thành ngữ này cho thấy:

– (Có người nào đó) bị ngã – tức là gặp nạn, không may;

– Ngã, nhưng rơi vào võng đào (một loại võng được coi là sang trọng, tốt và quý) tức là vẫn được đỡ bằng cái võng, êm, quý, sang, không mấy ai và không mấy lúc được ngồi, nằm ở đó.

Từ các hiểu cái nghĩa cơ sở của cấu trúc bề mặt nayf, người ta rút ra và nhận lấy ý nghĩa thực của thành ngữ như sau: Gặp tình huống tưởng như không may nhưng thực ra lại là rất may (và thích gặp tình huống đó hơn là không gặp bởi vì có lợi hơn là không gặp).

Căn cứ vào nội dung của thành ngữ miêu tả ẩn dụ kết hợp cùng với cấu trúc của chúng, có thể phân loại nhỏ hơn như sau:

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu một sự kiện. Trong các thành ngữ này, chỉ có một sự kiện, một hiện tượng nào đó được nêu. Chính vì vậy, cũng chỉ một hình ảnh được xây dựng và phản ánh. Ví dụ: Ngã vào võng đào, Nuôi ong tay áo, Nước đổ đầu vịt, Chó có váy lĩnh, Hàng thịt nguýt hàng cá, Vải thưa che mắt thánh, Múa rìu qua mắt thợ,…

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương đồng. Ở đây, trong mỗi thành ngữ sẽ có hai sự kiện, hai hiện tượng được nêu, được phản ánh. Chúng tương đồng hoặc tương hợp với nhau (hiểu một cách tương đối). Ví dụ: Ba đầu sáu tay, Nói có sách mách có chứng, Ăn trên ngồi trốc, Mẹ tròn con vuông, Hòn đất ném đi hòn chì ném lại,…

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương phản. Ngược lại với loại trên, mỗi thành ngữ loại này cũng nêu ra hai sự kiện, hai hiện tượng tương phản nhau hoặc chí ít cũng không tương hợp nhau. Ví dụ: Các thành ngữ Một vốn bốn lời, Méo miệng đòi ăn xôi vò, Miệng thơn thớt dạ ớt ngâm, Bán bò tậu ễnh ương, Xấu máu đòi ăn của độc,…

Bên cạnh việc phân loại thành ngữ tiếng Việt theo cơ chế cấu tạo và cấu trúc, còn có thể phân loại chúng theo số tiếng. Một nét nổi bật đáng chú ý ở đây là các thành ngữ có số tiếng chẵn (bốn tiếng, sáu tiếng, tám tiếng) chiếm ưu thế áp đảo về số lượng (xấp xỉ 85%). Điều này có cơ sở của nó. Người Việt rất ưu lối nói cân đối nhịp nhàng và hài hoà về âm điệu. Ngay ở bậc từ ta cũng thấy rằng hiện nay các từ song tiết (hai tiếng) chiếm tỉ lệ hơn hẳn các loại khác.

Và đến lượt mình, tỉ lệ 85% thành ngữ đó gây nên một áp lực về số lượng, khiến cho những cụm từ như: Trăng tủi hoa sầu, Tan cửa nát nhà, Tháng đợi năm chờ, Ăn gió nằm mưa, Lót đó luồn đây, Gìn vàng giữ ngọc,… nhanh chóng mang dáng dấp của các thành ngữ và rất hay được sử dụng.

2. Quán ngữ

Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse) thuộc phong cách khác nhau. Chức năng của chúng là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ.

Ví dụ: Của đáng tội, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói tóm lại, Kết cục là, Nói cách khác,…

Thật ra, tính thành ngữ và tính ổn định cấu trúc của quán ngữ không được như thành ngữ. Dạng vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này. Chỉ có điều, do nội dung biểu thị của chúng được người ta thường xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần lại và rồi người ta quen dùng như một đơn vị có sẵn.

Có thể phân loại các quán ngữ của tiếng Việt dựa vào phạm vi và tính chất phong cách của chúng, như sau:

Những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ: Của đáng tội, Khí vô phép, Khổ một nỗi là, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói dại đổ đi, Còn mồ ma, Nó chết (một) cái là, Nói (…) bỏ quá cho, Cắn rơm cắn cỏ, Chẳng nước non gì, Đùng một cái, Chẳng ra chó gì, Nói trộm bóng vía,…

Khó lòng có thể phân tích, phân loại quán ngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúc nội tại của chúng. Tuy nhiên, sự tồn tại của những đơn vị gọi là quán ngữ không thể bỏ qua được, và chức năng của chúng có thể chứng minh được không khó khăn gì. Tình trạng đa tạp và đầy biến động của các quán ngữ cũng như những đặc trưng bản tính của chúng, khiến cho ta nếu nghiêm ngặt thì phải nghĩ rằng: chúng đứng ở vị trí trung gian giữa cụm từ tự do với cụm từ cố định chứ không hoàn toàn nghiêng hẳn về một bên nào, mặc dù ở từng quán ngữ cụ thể, có thể nặng về bên này mà nhẹ về bên kia một chút hay ngược lại.

3. Ngữ cố định định danh

3.1. Tên gọi này chúng ta tạm dùng (vì nó chưa thật chặt về nội dung) để chỉ những đơn vị vốn ổn định về cấu trúc và ý nghĩa hơn các quán ngữ rất nhiều, nhưng lại chưa có được ý nghĩa mang tính hình tượng như thành ngữ.

Chúng thực sự là các cụm từ cố định, nhưng được tạo dựng theo cách gần như cách tạo những từ ghép mà người ta vẫn hay gọi là từ ghép chính phụ. Chẳng hạn: Quân sư quạt mo, Anh hùng rơm, Kỉ luật sắt, Tuần trăng mật, Con gái rượu, Giọng ông kễnh, Tóc rễ tre, Mắt ốc nhồi, Má bánh đúc, Mũi dọc dừa,…

3.2. Thực chất đó là những cụm từ cố định, định danh, gọi tên sự vật. Trong mỗi cụm từ như vậy thường có một thành tố chính và một vài thành tố phụ miêu tả sự vật được nêu ở thành tố chính. Nó miêu tả chủ yếu bằng con đường so sánh nhưng không hề có từ so sánh. Thành tố chính thường bao giờ cũng là thành tố gọi tên.

Con đường tạo dựng những cụm từ như: Lông mày lá liễu, Lông mày sâu róm, Mắt lá răm, Mắt ốc nhồi, Mắt lợn luộc, Mắt bồ câu, Mắt lươn,… gần như đồng hình với con đường tạo dựng các từ ghép: đen xì, đen sẫm, đen trũi, đen láy, đen nhánh, đen xỉn,…

Chính bởi vậy, ở đây có hai xu hướng chuyển di ngược chiều nhau và thâm nhập vào nhau. Một số thành ngữ so sánh bị khử từ so sánh dễ được nhập vào số những cụm từ kiểu này: Ngang cành bứa, Cay xé, Dẻo kẹo, Đen thui, Trẻ măng,… Ngược lại, một số cụm từ vốn được tạo ra theo kiểu này, nhưng vì tính thành ngữ, tính hình tượng đạt tới mức độ gần tương đương với các thành ngữ thực sự, lai rất có thể dễ được nhận vào hàng ngũ của các thành ngữ: Ví dụ: Tuần trăng mật, Kỉ luật sắt, Con gái rượu, Sách gối đầu giường, Hòn đá thử vàng, Bạn nối khố, Thẳng ruột ngựa, Toạc móng héo,…

3.3. Các ngữ cố định định danh thường tập trung với mật độ khá đậm ở khu vực tên gọi các bộ phận cơ thể con người như: Tóc rễ tre, Lông mày lá liễu, Lông mày sâu róm, Mắt lá răm, Mắt bồ câu, Mắt ốc nhồi, Râu ngạnh trê, Má bánh đúc, Mặt trái xoan, Mũi dọc dừa, Mồm cá ngão, Răng cải mả, Chân vòng kiềng, Chân chữ bát, Mặt lưỡi cày, Bụng cóc, Mình trắm,…

Một số ít hơn là tên gọi của các sự vật khác hoặc tên gọi của một trạng thái, thuộc tính. Chẳng hạn: Giọng ông kễnh, Đá tai mèo, Kỉ luật sắt, Gót sắt, Con gái rượu, Bạn áo ngắn, Sách gối đầu giường, Hòn đá thử vàng, Bạn nối khố, Cười cầu tài, Tấm lòng vàng, Bạn vàng, Toạc móng heo, Thẳng ruột ngựa,…

3.4. Cũng như tình trạng của quán ngữ, các cụm từ là ngữ cố định định danh có những biểu hiện không đồng đều nhau ở điểm này hoặc điểm khác. Rõ ràng là, nhìn chung, chúng ổn định cả cấu trúc lẫn ngữ nghĩa. Nhưng tính thành ngữ thì lại kém, thậm chí kém xa hoặc rất xa so với những thành ngữ chân chính. Tuy nhiên, chúng cũng không phải là từ ghép, nếu xét về bậc được cấu tạo. Chỉ có điều, việc cơ chế cấu tạo của chúng có phần giống với các từ ghép chính phục thì chúng ta phải thừa nhận.

Ở những mức độ khác nhau, chúng hiện diện như là đơn vị đứng giữa cụm từ cố định-thành ngữ với từ ghép.

4. Những hiện tượng trung gian

Mặc dầu vậy, chúng vẫn là những cụm từ có tính cố định. Chỉ có điều tính cố định đó cao hay thấp, nhiều hay ít mà thôi.

Có thể coi các cụm từ cố định tiếng Việt có vùng tâm và vùng biên, có đơn vị điển hình và đơn vị không điển hình. Thành ngữ chắc chắn thuộc vùng trung tâm.

Thế nhưng, ngay ở khu vực thành ngữ cũng có những đơn vị trung gian được cấu tạo theo lối thành ngữ nhưng tính tự do, kém ổn định vẫn còn rõ nét.

Có những đơn vị đã đạt được tính thành ngữ khá cao nhưng tính bền chắc, tính chỉnh thể về cấu trúc lại còn kém ổn định. Nghĩa là số thành tố cấu tạo nên chúng có thể còn tăng hay giảm được một cách tuỳ nghi.

Rất nhiều cụm từ cấu tạo theo kiểu thành ngữ so sánh, là như thế: Nhức như búa bổ, Đắt như vàng, Gầy như gọng vó, Buồn như cha chết, Hôi như chuột chù, Bẩn như hủi, Lôi thôi như ổ chó,…

Ngược lại, có những đơn vị khác, tính ổ định về cấu trúc khá bảo đảm, tức là không thể thêm bớt các thành tố cấu tạo một cách tuỳ nghi, nhưng tính thành ngữ, tính nhất thể về nghĩa vẫn chưa cao. Nghĩa của cả cụm từ vẫn là nghĩa được hiểu nhờ từng thành tố cộng lại. Ví dụ: Bàn mưu tính kế, Đi ra đi vào, Buôn gian bán lận, Suy đi tính lại, Nghĩ tới nghĩ lui, Gìn vàng giữ ngọc, Trăng tủi hoa sầu, Chân mây cuối trời, Than thân trách phận, Ăn thô nói tục, Yêu trẻ kính già,…

Những đơn vị như thế, đã, đang và chắc sẽ còn được tạo lập trong tiếng Việt. Đó là những sản phẩm được tạo ra trong đời sống hoạt động ngôn ngữ. Trả lời cho câu hỏi “Chúng có trở thành thành ngữ hay không?” thật là khó. Hẳn rằng còn phải qua thời gian, qua thực tế sử dụng, qua rất nhiều tác động của các nhân tố trong và ngoài ngôn ngữ nữa,… mới có thể kết luận được.

Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 153-165.

Cụm Từ Cố Định: Khái Niệm

1. Đơn vị dùng làm chất liệu cơ sở để tạo ra câu – đơn vị giao tiếp – không phải chỉ có từ. Ngoài từ ra, còn có một loại đơn vị gọi là cụm từ cố định. Có thể nêu một khái niệm giản dị cho cụm từ cố định điển hình như sau:

Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại, tồn tại với tư cách một đơn vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ.

Chính vì thế cụm từ cố định được gọi là đơn vị tương đương với từ. Chúng tương đương với nhau về tư cách của những đơn vị được làm sẵn trong ngôn ngữ, và tương đương với nhau về chức năng định danh, chức năng tham gia tạo câu. Chẳng hạn, các cụm từ: to hold the balance even between two paties, to speak by the book,… của tiếng Anh; ruộng cả ao liền, qua cầu rút ván, tóc rễ tre, con gái rượu,… của tiếng Việt,… đều là những cụm từ cố định. Chúng được tái hiện và tái lập cũng như các từ vậy.

2. Cụm từ cố định cần được phân biệt với những đơn vị lân cận, dễ lầm lẫn với chúng, là từ ghép và cụm từ tự do.

Trước hết, nếu so sánh một từ ghép điển hình với một cụm từ cố định điển hình ta thấy chúng đều giống nhau ở chỗ:

– Cùng có hình thức chặt chẽ, cấu trúc cố định;

– Cùng có tính thành ngữ;

– Cùng là những đơn vị làm sẵn trong ngôn ngữ.

Ví dụ: sinh viên, học tập, đỏ rực, ngon lành, hoa hồng,… ăn ốc nói mò, mặt trái xoan, vênh váo như bố vợ phải đấm,…

Ở đây, cần nói thêm về cái gọi là tính thành ngữ. Thực ra, khái niệm này chưa phải là đã tuyệt đối rõ ràng. Nói chung, thường gặp nhất là cách hiểu như nhau: Giả sử có một kết cấu X gồm các yếu tố a, b, c,… hợp thành X = a + b + c +… Nếu ý nghĩa của X mà không thể giải thích được bằng ý nghĩa của từng yếu tố a, b, c,… thì người ta bảo kết cấu X (hoặc tổ hợp X) có tính thành ngữ.

Vậy chứng tỏ rằng tính thành ngữ có các mức độ cao, thấp khác nhau trong các tổ hợp, kết cấu khác nhau, bởi vì cách tổ chức nội dung và hình thức của chúng theo những con đường, những phương sách rất khác nhau. Đối chiếu với các ví dụ nêu trên, ta sẽ thấy điều đó.

Từ ghép với cụm từ cố định phân biệt, khác nhau ở chỗ:

– Về thành tố cấu tạo: Thành tố cấu tạo của từ ghép là hình vị, còn thành tố cấu tạo của cụm từ cố định là từ. So sánh:

news + paper – newspaper

ễnh + ương – ễnh ương

speak + by + the + book – speak by the book

bán + bò + tậu + ễnh + ương – bán bò tậu ễnh ương

– Về ý nghĩa: Nghĩa của cụm từ cố định được xây dựng và tổ chức theo lối tổ chức nghĩa của cụm từ, và nói chung là mang tính hình tượng. Chính vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào bề mặt, vào nghĩa của từng thành tố cấu tạo thì nói chung là không thể hiểu được đích thực của toàn cụm từ. Ví dụ: anh hùng rơm, đồng không mông quạnh, tiếng bấc tiếng chì,…

Trong khi đó, đối với từ ghép, thì nghĩa định danh (trực tiếp hoặc gián tiếp) theo kiểu tổ chức nghĩa của từ lại là cái cốt lõi và nổi lên hàng đầu.

Ví dụ: mắt cá (chân), đầu ruồi, chân vịt, đen nhánh, xanh lè, tre pheo, thuyền trưởng,…

3. Đối với cụm từ tự do, cụm từ cố định cũng có những nét giống nhau và khác nhau.

Chúng giống nhau bởi lẽ đương nhiên thứ nhất: cả hai đều là cụm từ, được tạo lập bằng sự tổ hợp của các từ.

Nét giống nhau thứ hai là giống nhau về hình thức ngữ pháp. Điều này dẫn đến hệ quả là quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố cấu tạo cũng giống nhau. Ví dụ:

nhà ngói cây mít; nhà tranh vách đất;… (cụm từ cố định)

cháo gà cháo vịt; phở bò miến lươn;… (cụm từ tự do)

Tuy vậy, quan sát kĩ thì thấy chúng khác nhau ở những mặt quan trọng.

– Cụm từ cố định hiện diện với tư cách là đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, ổn định và tồn tại dưới dạng làm sẵn. Trong khi đó, cụm từ tự do được đặt ra trong lời nói, trong diễn từ (discourse). Nó hợp thành đấy, rồi tan đấy, vì nó không tồn tại dưới dạng một đơn vị làm sẵn. Cụm từ tự do chỉ là một sự lấp đầu từ vào một mô hình ngữ pháp cho trước mà thôi.

– Vì tồn tại dưới dạng làm sẵn nên thành tố cấu tạo cụm từ cố định có số lượng ổn định, không thay đổi. Ngược lại, số thành tố cấu tạo cụm từ tự do có thể thay đổi tuỳ ý. Ví dụ: mẹ tròn con vuông, mồm năm miệng mười,… số thành tố cấu tạo luôn luôn ổn định. Thế nhưng, một cụm từ tự do ” những người cười” chẳng hạn, có thể thêm bớt các thành tố một cách tuỳ ý để cho ta những cụm từ có kích thước khác nhau: những người này – những người chưa nói đã cười này – những người vừa mới đến mà chưa nói đã cười này,…

– Về ý nghĩa, cụm từ cố định có ý nghĩa như một chỉnh thể tương ứng với một chỉnh thể cấu trúc vật chất của nó. Có nghĩa là nó có tính thành ngữ rất cao, còn cụm từ tự do thì không như vậy. Ví dụ, chỉnh thể ý nghĩa của cụm từ cố định: rán sành ra mỡ, méo miệng đòi ăn xôi vò, say như điếu đổ,… có tính thành ngữ cao đến mức tối đa, còn những cụm từ tự do như rán mỡ, miệng cười, say thuốc lào,… thì tính thành ngữ của chúng chỉ là zero.

Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 153-155.