Top 4 # Ý Nghĩa Quốc Kỳ Việt Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Drosetourmanila.com

Quốc Kỳ Việt Nam: Ý Nghĩa Và Lịch Sử

Lá quốc kỳ Việt Nam tung bay là hình ảnh đầy xúc động trong lòng mỗi người dân chúng ta. Hiểu về Quốc kỳ là điều mỗi công dân cần biết.

Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp (23/11/1940). Tác giả sáng tạo ra lá cờ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh này là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5/3/1901 tại Hà Nam, bị địch bắt và bị xử bắn ngày 28-8-1941 cùng các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa tại Hóc Môn, trong đó có cả Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Vǎn Tần, Hà Huy Tập…). Tâm huyết của tác giả khi sáng tạo ra lá cờ Tổ quốc được khắc họa rõ nét trong bài thơ của ông

Hỡi những ai máu đỏ da vàngHãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốcNền cờ thắm máu đào vì nướcSao vàng tươi, da của giống nòiĐứng lên mau hồn nước gọi ta rồiHỡi sỹ nông công thương binhĐoàn kết lại như sao vàng năm cánh.

Mỗi một dân tộc, một quốc gia đều có Quốc kỳ riêng của mình. Việt Nam là một dân tộc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; Quốc kỳ Việt Nam là lá cờ đỏ sao vàng, là biểu tượng của hồn nước, lòng dân, của tình đoàn kết đời đời bền vững của đại gia đình các dân tộc Việt Nam và là biểu tượng thiêng liêng nhất, thể hiện nhiệt huyết cách mạng, sự hy sinh anh dũng của toàn thể nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đánh đuổi quân xâm lược, giành chính quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Lá cờ đỏ sao vàng, biểu tượng chung nhất của dân tộc Việt Nam, đã khắc sâu vào tâm khảm của mỗi một người dân Việt Nam và đã được cộng đồng quốc tế công nhận và tôn trọng.

Lá cờ đỏ sao vàng là một minh chứng khẳng định sự thống nhất, độc lập, tự chủ và hòa bình của dân tộc Việt Nam. Điều đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và lịch sử kiểm chứng trong gần một thế kỷ qua, đó là: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Lịch sử và ý nghĩa của lá cờ đỏ sao vàng Việt Nam gắn liền với những năm tháng đấu tranh kiên cường, bất khuất, đổ máu hy sinh anh dũng của nhân dân Việt Nam đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi của Tổ quốc, giành chính quyền, thống nhất đất nước, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn để có được cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc ngày nay.

Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vã lãnh đạo cách mạng. Thời kỳ đầu, trong các cuộc đấu tranh đã xuất hiện lá cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh nhưng được lồng trên hình búa liềm.

Năm 1940, Xứ uỷ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Nam kỳ họp quyết định khởi nghĩa, đã thực hiện di huấn của đồng chí Trần Phú – Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng – lấy cờ đỏ sao vàng làm lá cờ khởi nghĩa với ước muốn là sau khi đánh đổ đế quốc Pháp sẽ thành lập nước Việt Nam Cộng hòa dân chủ và quốc kỳ Việt Nam sẽ là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh.

Tháng 5/1941 tại Khui Nậm, Cao Bằng, Lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị Trung ương VIII quyết định thành lập tổ chức Việt Nam độc Lập đồng minh – đoạn mở đầu chương trình Việt Minh ghi rõ: “Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ”. Đây là văn bản đầu tiên, chính thức quy định Quốc kỳ của nước Việt Nam là cờ đỏ sao vàng.

Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, Tuyên Quang đã quyết định Quốc kỳ Việt Nam là nền đỏ. ở giữa có một sao vàng năm cánh.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: “Quốc kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”.

Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, non sông Việt Nam đã liền một dải. Từ ngày 24/6 đến 3/7/1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp tại Thủ đô Hà Nội, đã thông qua nhiều Nghị quyết quan trọng, trong đó công nhận Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

Nền đỏ tượng trưng cho màu nhiệt huyết cách mạng, màu chiến đấu và chiến thắng; màu vàng của ngôi sao tượng trưng cho sự sáng ngời của linh hồn dân tộc Việt Nam; năm cánh sao là sức mạnh đoàn kết của các tầng lớp đồng bào chiến đấu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Quốc kỳ Việt Nam được tung bay trên khắp các công sở, trường học, các Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài, các cửa khẩu, các buổi mít tinh, lễ đón tiếp các đoàn khách cấp cao nước ngoài; Quốc kỳ Việt Nam cũng được giương lên cùng với Quốc kỳ của những nước trên thế giới khi các đoàn cấp cao của chúng ta đến thăm và làm việc. Cờ đỏ sao vàng Việt Nam cũng được tung bay trên từng nóc nhà mỗi một gia đình Việt Nam vào những ngày lễ hội, Tết cổ truyền…

Nguồn: chúng tôi

Lá cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ duy nhất đại diện cho dân tộc Việt Nam, điều đó đã khắc sâu vào tâm khảm của mỗi một người dân Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam đã khẳng định tại cuộc họp Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946: “Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồng bào ta trong Nam kỳ khởi nghĩa năm 1940. Chính lá cờ này đã cùng phái đoàn chính phủ đi từ châu á sang châu Âu, từ châu Âu về châu á; cờ đã có mặt trên khắp đất nước Việt Nam. Vậy thì… trừ 25 triệu đồng bào, còn không ai có quyền đòi thay đổi Quốc kỳ và Quốc ca…”. Đó là hồn nước, niềm tự hào, biểu tượng thiêng liêng bất khả xâm phạm của bản sắc dân tộc Việt Nam.

Định dạng chuẩn

Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Điểm giữa ngôi sao vàng đặt đúng điểm giữa (điểm giao nhau của hai đường chéo) Quốc kỳ. Khoảng cách từ điểm giữa ngôi sao đến đầu cánh sao bằng một phần năm chiều dài của Quốc kỳ. Một cánh sao có trục vuông góc với cạnh dài Quốc kỳ và hướng thẳng lên phía trên theo đầu cột treo Quốc kỳ. Tạo hình ngôi sao: từ đầu cánh sao này đến đầu cánh sao đối diện là đường thẳng, không phình ở giữa, cánh sao không bầu. Hai mặt của Quốc kỳ đều có ngôi sao vàng trùng khít nhau. Nền Quốc kỳ màu đỏ tươi, ngôi sao màu vàng tươi.

Hình ảnh giúp thiết kế chuẩn Quốc kỳ

Ý Nghĩa Lịch Sử Của Quốc Kỳ Và Quốc Ca Việt Nam

Nhạc sĩ Văn Cao đã sống những năm cuối đời tại một căn gác nhỏ trên phố Yết Kiêu, Hà Nội. Tại đây, người thân của ông vẫn đang lưu giữ những kỷ vật về người nhạc sĩ tài hoa, trong đó có bài “Tiến quân ca” được cất giữ như một báu vật của gia đình.

Tham gia Việt Minh, nhiệm vụ của Văn Cao là viết một ca khúc để cổ vũ tinh thần cho đội quân cách mạng. Và “Tiến quân ca” đã ra đời vào năm 1944 và được in trên báo Độc lập do chính tác giả tự khắc bản nhạc lên phiến đá để in báo. Ngày 13/8/1945 trước khi Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhạc sĩ Văn Thao – Con trai cả của cố nhạc sĩ Văn Cao kể lại: “Ông đã nhìn thấy năm đó là năm nạn đói người chết rất nhiều, hàng ngày những xe bò đi thu nhặt xác chết và ông có một cảm xúc, một sự khơi dậy trong tình cảm, lòng căm thù vì sao mà lại có những cái cảnh này xảy ra trên đất nước mình. Vì thế, ông nghĩ là phải có một bài hát nào đó thúc giục chúng ta đứng lên”.

Còn tại một căn nhà nhỏ khác ở xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, Hà Nam cũng đang lưu giữ kỷ vật về một con người – ông Nguyễn Hữu Tiến, người được cho là tác giả của lá cờ đỏ sao vàng. Kỷ vật ấy là bức tranh ông Tiến phác thảo lá cờ do nhạc sỹ Văn Cao vẽ tặng.

Bà Nguyễn Thị Xu – Con gái liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến ngậm ngùi: “Khi còn đang hoạt động thì bố tôi vẽ ra mẫu cờ Tổ quốc nên bị bắt tù đầy. Rồi cụ mất lúc tôi hãy còn bé nên không gặp bố lần nào nữa. Ông Văn Cao và ông Sơn Tùng cũng về 1, 2 lần và mang cái ảnh cụ tôi vẽ ra lá cờ Tổ quốc”.

Ngày 2/9/1945, Tiến quân ca cùng cờ đỏ sao vàng hãnh diện tung bay trong ngày Bác Hồ bố cáo trước toàn thể quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hơn một năm sau, trong Điều 3 của bản Hiến pháp đầu tiên đã quy định Cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh và Quốc ca là bài Tiến quân ca.

PGS.TS. Phạm Xanh – Nhà nghiên cứu Lịch sử cho biết: “Màu đỏ của lá cờ là màu của cách mạng. Chúng ta giành lấy nền độc lập và giữ nền độc lập bằng máu của nhiều thế hệ dân tộc chúng ta. Ngôi sao vàng là màu của chủng tộc, chủng tộc da vàng, còn 5 cánh của ngôi sao là tựu chung cho sự đoàn kết của dân tộc của 5 lớp người: sĩ, nông, công, thương, binh. Và sự quy tụ đó là của khối đại đoàn kết dân tộc. Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa 1 năm 1946 trước đó có một số phần tử muốn thay Quốc kỳ nhưng cụ Hồ đã nói một lời kiên quyết trong kỳ họp thứ 2 đó rằng quyền đó không phải là quyền của Quốc hội mà là quyền của 25 triệu người dân Việt Nam. Chỉ khi 25 triệu người dân Việt Nam quyết định thay lá cờ, thay quốc ca thì Quốc hội mới có quyền thay”.

Và sau khi đất nước được thống nhất, mặc dù trong các bản Hiến pháp năm 1959 và 1980 chỉ quy định rõ Quốc kỳ mà không quy định rõ về Quốc ca, nhưng trong phiên họp Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất vào năm 1976, nhạc và lời của bài Tiến quân ca vẫn được Quốc hội quyết định là Quốc ca của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

68 năm kể từ ngày nước Việt Nam có Quốc ca và Quốc kỳ, bài Tiến quân ca và lá cờ đỏ sao vàng đã đi cùng với dặm đường trường chinh dân tộc Việt Nam. Và gần đây, dù có một vài ý kiến đề nghị thay đổi lời của bài Quốc ca, nhưng lời của bài Tiến quân ca thúc giục người Việt Nam tiến lên vì Tổ quốc và lá cờ đỏ sao vàng “in máu chiến thắng mang hồn nước” vẫn tiếp tục được quy định trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 giống như bản Hiến pháp hiện hành.

Ý Nghĩa Quốc Huy Việt Nam

Để hiểu rõ ý nghĩa quốc huy Việt Nam, bài viết sẽ phân tích cấu tạo, hình thức của quốc huy.

Trước hết là hình ngôi sao vàng 5 cánh đặt ở trung tâm nền đỏ của quốc huy. Màu đỏ tượng trưng cho nhiệt huyết chiến đấu, là máu của các anh hùng liệt sĩ đã xả thân cứu nước và màu vàng là màu da của người Việt Nam. 5 cánh của ngôi sao là đại diện cho năm tầng lớp: sĩ, nông, công, thương, binh cùng hợp lại, đoàn kết chống lại kẻ thù, xây dựng đất nước.

Hình ảnh bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho nông nghiệp, bánh xe tượng trưng cho công nghiệp khẳng định: Việt Nam là nước liên minh công – nông và luôn đoàn kết cùng nhau để xây dựng đất nước phát triển hơn.

Mang ý nghĩa là biểu tượng của đất nước, của dân tộc, Quốc Huy là vật phẩm thường được các nhà lãnh đạo, người làm trong cơ quan nhà nước dùng để làm quà biếu tặng. Vì vậy, ý nghĩa quốc huy Việt Nam mang ý nghĩa lịch sử dân tộc vượt thời gian.

Quốc huy bằng đồng chế tác thủ công thường được treo tại các cơ quan công quyền của nhà nước, trong các phòng họp của các đơn vị, văn phòng đoàn thể,…

2. Hình mẫu chuẩn của Quốc Huy Đảng Cộng Sản Việt Nam

Theo điều 13 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Khi chế tác , các nghệ nhân thường dùng các quy chuẩn: Hai bông lúa chín màu vàng sẫm uốn cong, đặt trên nền vàng tươi, tượng trưng cho nông nghiệp; Một bánh xe răng cưa màu vàng tươi đặt ở giữa hai bó lúa buộc chéo, tượng trưng cho công nghiệp; Một băng đỏ có chữ “Việt Nam dân chủ cộng hoà” màu vàng quấn bánh xe và hai bó lúa với nhau; Trong lòng là hình lá cờ vàng tươi trên nền đỏ tươi; Các màu vàng ở mẫu quốc huy có thể thay bằng màu vàng kim nhũ.

Tùy theo yêu cầu mà kích thước của quốc huy có sự khác nhau. Với các không gian như: trụ sở, tỉnh ủy, ủy ban, Quốc huy thường lớn để treo trước cửa chính của hội trường, quốc huy nhỏ có thể trưng bày trong văn phòng, cơ quan, đoàn thể. Với ý nghĩa quốc huy Việt Nam sâu sắc nên cũng được chế tác với kích thước mini để làm vật trang trí để bàn hoặc quà tặng đối tác nước ngoài.

3. Quốc huy Việt Nam bằng đồng đẹp, đa dạng kích thước tại cơ sở Đúc Đồng Quang Hà

Quốc huy Việt Nam thường được làm từ đổng bởi đồng có độ bền và độ đẹp khi chế tác thành phẩm. Hơn nữa, quốc huy thường được trưng bày ngoài trời mà đồng không bị oxy hóa, hoen gỉ nên quốc huy bằng đồng đỏ hoặc đồng vàng được ứng dụng nhiều nhất.

Tuy nhiên, đồng phải là nguyên chất thì mới đảm bảo chất lượng và độ bền. Nhưng không phải khách hàng nào cũng biết cách nhận biết đồ bằng đồng thật và giả.

Vì vậy, tốt nhất, khách hàng nên đến các cơ sở đúc đồng lâu năm, cửa hàng uy tín như Đồ đồng Quang Hà, Đồ đồng Dương Quang Hà, Đồ đồng Tâm Phát để tham khảo các mẫu quốc huy đẹp.

Các mẫu quốc huy Việt Nam bằng đồng đẹp, đa dạng kích thước tại cơ sở Đúc đồng Quang Hà:

Với những phân tích về ý nghĩa quốc huy Việt Nam và các mẫu quốc huy đẹp của Đúc đồng Quang Hà, hi vọng sẽ mang lại sự lựa chọn hài lòng nhất cho khách hàng.

Nếu quý khách có nhu cầu về các sản phẩm đồ đồng, xin vui lòng liên hệ tại:

Ý Nghĩa Quốc Kỳ Các Nước

Quốc kỳ là loại cờ được dùng làm biểu trưng cho một quốc gia. Những công trình công cộng và tư nhân như trường học và cơ quan chính phủ thường treo quốc kỳ. Các yếu tố như màu cờ, hình dạng và các ký hiệu được dùng để nêu bật đặc điểm, lịch sử và giá trị của quốc gia. Tôn trọng quốc kỳ cũng là thể hiện sự yêu nước, nhắc nhở chúng ta nguồn gốc và văn hóa của tổ tiên.

Tiếp theo bài viết “Các lá cờ kỳ thú trên thế giới”, hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu về quốc kỳ của các nước.

Trước khi đi vòng quanh thế giới, tìm hiểu Đông Tây cổ kim thì hãy dành chút thời gian để hiểu về quốc kỳ Việt Nam. Có thể bạn đã được nghe nói nhiều về ý nghĩa của Quốc kỳ nước ta nhưng nếu ai đó đột nhiên hỏi bạn thì bạn có thể nói trôi chảy được không?

VIỆT NAM

Tổng quan: Quốc kỳ Việt Nam hiện nay được công nhận chính thức vào năm 1976, là lá cờ đại diện cho nước Việt Nam thống nhất. Trong Hiến pháp (2013) có quy định: “Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”. Nguyên mẫu của quốc kỳ Việt Nam hiện nay được ghi nhận xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23/11/1940. Tuy nhiên, dù đã tồn tại hơn 70 năm nhưng tác giả của lá cờ vẫn không được xác định một cách chính xác, đa số ý kiến cho rằng tác giả là ông Nguyễn Hữu Tiến, nhưng cũng có một số giả thiết cho là ông Lê Quang Sô.

Ýnghĩa:

BRAZIL

Tổng quan: Nhiều người trong chúng ta sẽ thấy quen thuộc với quốc kỳ Brazil, đặc biệt là những ai mê môn bóng đá. Quốc kỳ Brazil được chính thức thông qua vào ngày 19/11/1889. Nhà tâm lý học, toán học người Brazil TeixeiraMendes cùng các cộng sự Miguel Lemos, Manuel Pereira Reis và Décio Villares là tác giả tạo ra lá cờ này. Lá quốc kỳ là sự kết hợp vòng tròn màu xanh với những ngôi sao và dòng chữ “Ordem e Progresso”, nằm lọt bên trong hình thoi màu xanh trên nền xanh lá.

Ý nghĩa:

Nền xanh lá: màu biểu tượng của vua Pedro, hoàng đế đầu tiên của Brazil, đồng thời cũng tượng trưng cho những cánh rừng và cánh đồng xum xuê, tươi tốt của Brazil.

Hình thoi màu vàng: màu đại diện cho nữ hoàng Maria Leopoldina, vợ của vua Pedro, đồng thời đây cũng là trữ lượng vàng lớn của Brazil.

Vòng tròn màu xanh: quả địa cầu màu xanh với đầy sao.

Các ngôi sao trắng: 27 ngôi sao trắng năm cánh với kích thước khác nhau biểu trưng cho các bang của Brazil và Đặc khu Liên bang.

Khẩu hiệu: dòng chữ màu trắng chạy qua vòng tròn màu xanh “ORDEM E PROGRESSO”, là cụm từ trong tiếng Bồ Đào Nha với ý nghĩa “Trật tự và Tiến bộ”.

TRUNG QUỐC

Tổng quan: Quốc kỳ Trung Quốc được thượng cờ lần đầu tiên vào ngày 01/10/1949 tại buổi lễ khai sinh ra nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa. Lá cờ do Tăng Liên Tùng thiết kế trong phong trào phát động thiết kế quốc kỳ. Trong đợt phát động này, ban tổ chức đã nhận được 3.000 mẫu thiết kế và thiết kế của Tăng Liên Tùng được chọn, được chỉnh sửa lại một chút. Lá quốc kỳ với ngôi sao vàng lớn bao quanh bởi 4 ngôi sao vàng nhỏ nằm ở góc trên bên trái của nền cờ đỏ. Lá cờ thường cũng được gọi là “Ngũ tinh hồng kỳ”.

Ý nghĩa:

MỸ

Tổng quan: Quốc kỳ của Hoa Kỳ được chính thức công nhận vào ngày 14/6/1777. Vào thời điểm vừa được chính thức công nhận, có 13 sọc ngang đỏ và trắng xen kẽ và một góc nhỏ bên trên trái của lá cờ là khu vực nền xanh gồm 13 ngôi sao. Con số 13 tượng trưng cho 13 tiểu bang đầu tiên tuyên bố độc lập khỏi nước Anh và thành lập nên Liên bang. Kể từ đó, là quốc kỳ được thay đổi 26 lần khi số bang tăng lên và lá cờ 50 sao hiện tại được chính thức thông qua vào ngày 04/7/1960. Trong tiếng Anh, lá quốc kỳ này còn có nhiều tên khác như The Stars and Stripes (sao và sọc), Old Glory và The Star-Spangled Banner (lá cờ đính sao).

Ý nghĩa:

Màu đỏ: tượng trưng cho lòng dũng cảm, sức mạnh và sự nhiệt huyết.

Màu trắng: nói lên niềm hy vọng, thanh khiết và kỷ luật.

Màu xanh dương: biểu tượng của lòng trung thành và công lý.

13 sọc: biểu trưng cho 13 bang sơ khai trong buổi đầu mới thành lập của nước Mỹ.

50 sao: tượng trưng cho 50 bang.

AUSTRALIA

Tổng quan: Quốc kỳ Australia lần đầu tiên tung bay tại Melbourne vào ngày 03/9/1901 (ngày 03/9 cũng là Ngày Quốc kỳ Australia).Tuy nhiên, thiết kế đã được hiệu chỉnh một chút và được vua Edward-VII thông qua vào năm 1903. Thiết kế quốc kỳ được chọn từ một cuộc thi được tổ chức năm 1901. Lá cờ bao gồm Cờ liên hiệp Anh ở góc trên bên trái, một ngôi sao lớn màu trắng 7 cánh phía dưới cờ liên hiệp Anh và 5 ngôi sao ở nửa phải tượng trưng cho chòm sao Chữ thập phương Nam.

Ý nghĩa:

HÀN QUỐC

Tổng quan: Quốc kỳ Hàn Quốc được chính thức phê chuẩn vào ngày 15/10/1949 dù đã được sử dụng từ trước đó. Trong tiếng Hàn Quốc được gọi là Taegeugi (cờ Thái cực), bao gồm Thái cực đồ (vòng tròn âm – dương) với 2 màu đỏ và xanh (tiếng Hàn Quốc gọi là Taegeuk), xung quanh là 4 quẻ bát quái đối lập với nền trắng.

Ý nghĩa:

NAM PHI

Tổng quan: Quốc kỳ Nam Phi được phê chuẩn vào ngày 27/4/1994. Quốc kỳ với ý nghĩa tượng trưng cho sự thống nhất và là biểu tượng của nền dân chủ mới sau khi kết thúc chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid. Lá cờ được thiết kế bởi nhà nghiên cứu quân kỳ Frederick Brownell, ông cũng là tác giả thiết kế quốc kỳ Nambia. Vào thời điểm được chấp thuận, đây là quốc kỳ duy nhất có 6 màu. Hình ảnh quốc kỳ Nam Phi có dạng chữ Y với các màu đỏ, xanh dương, xanh lá cây, vàng và đen.

Ý nghĩa:

ICELAND

Tổng quan: Quốc kỳ của Iceland được chính thức thông qua vào ngày 19/6/1915 và được quy định chính thức trong luật vào ngày 17/6/1944 khi Iceland chính thức hoàn toàn độc lập. Nền cờ màu lam, trên có chữ thập màu trắng và màu đỏ. Hình ảnh chữ thập được lấy ý tưởng từ là cờ của Đan Mạch (tách ra khỏi Đan Mạch và trở thành một quốc gia độc lập sau một cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1944).

Ý nghĩa:

PAKISTAN

Tổng quan: Quốc kỳ của Pakistan được chấp thuận thông qua trong cuộc họp của Hội đồng Lập hiến vào ngày 11/08/1947, đúng 3 ngày trước khi nước này giành được độc lập vào ngày 14/3/1947. Lá quốc kỳ này do Amiruddin Kidwai dựa trên lá cờ của Liên đoàn Hồi giáo toàn Ấn Độ, đảng chính trị thúc đẩy thành lập nhà nước Hồi giáo Pakistan tách từ Ấn Độ. Một ngôi sao năm cánh màu trắng và một trăng lưỡi liềm trên nền xanh lá cây đậm, với một dải trắng đứng tại rìa bên trái.

Ý nghĩa:

Màu xanh lá: tượng trưng cho đạo Hồi và các tín đồ Hồi giáo.

Màu trắng: tượng trưng cho các tôn giáo thiểu số. Đồng thời, màu xanh lá và trắng là biểu tượng của nền hòa bình và thành công kinh tế.

Trăng liềm: thể hiện sự tiến bộ.

Sao: dấu hiệu của ánh sáng và tri thức.

ẤN ĐỘ

Tổng quan: Quốc kỳ của Ấn Độ được thông qua như hình dạng hiện tại trong cuộc họp của Hội đồng Lập pháp vào ngày 22/7/1947 và trở thành quốc kỳ chính thức của Ấn Độ vào ngày 15/8/1947, Ngày Độc lập của Ấn Độ. Với tên gọi là Tiranga (nghĩa là tam tài hay tam sắc) dựa trên lá cờ Swaraj, cờ hiệu của Đảng Quốc Đại Ấn Độ do Pingali Venkayya thiết kế. Là cờ bao gồm 3 sọc ngang lần lượt có màu vàng nghệ, trắng và xanh lá với Ashoka Chakra (một thiết kế bánh xe 24 nan hoa) màu lam nằm tại trung tâm.

Ý nghĩa:

Màu vàng nghệ: biểu tượng cho lòng can đảm, dũng khí và sự hy sinh.

Màu trắng: tượng trưng cho lòng chân thật, sự thanh khiết và hòa bình.

Màu xanh lá: biểu trưng cho niềm tin và tinh thần thượng võ.

Ashoka Chakra: còn gọi là dharmachakra hay bánh xe đức hạnh, với 24 nan hoa tượng trưng cho Dharma – triết lý sống của nhiều tôn giáo như Ấn Độ giáo, Hồi giáo và Kỳ Na giáo. Bánh xe cũng biểu thị sự chuyển động và phát triển không ngừng như lời nhắc nhở Ấn Độ không ngừng vận động, thay đổi và phát triển.