Top 10 # Ý Nghĩa Quốc Kỳ Trung Quốc Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Drosetourmanila.com

Ý Nghĩa Quốc Kỳ Mỹ

Mỗi nước đều có lá Quốc Kỳ riêng biểu thị sự kiêu hãnh và niềm tự hào Quốc Gia, dân tộc và mỗi lá cờ lại có một ý nghĩa riêng. Vậy lá Quốc Kỳ Mỹ thì sao?

Người ta vẫn thường hỏi nhau về quốc gia, quốc tịch của một người ngoại quốc khi mới gặp lần đầu. Khi đó, mỗi người đều sẽ tự giới thiệu về quốc gia của mình với một niềm tự hào sâu sắc. Còn trong thi đấu thể thao, mỗi vận động viên lại mang theo lá Quốc Kỳ của đất nước mình, họ chính là những người đại diện cho  tổ quốc mình, cho màu cờ sắc áo của đất nước – nơi mà họ đã sinh ra.

Và mỗi lá Quốc Kỳ đều mang một ý nghĩa nào đó vô cùng linh thiêng và lớn lao, và với người Mỹ cũng vậy, lá quốc kỳ có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần. Quốc kỳ Mỹ trở thành biểu tượng của tự do, lá cờ đã nói lên sự hy sinh của biết bao thế hệ để giành lấy nền độc lập.

Lá cờ đầu tiên của Hoa Kỳ gồm có 13 ngôi sao và 13 sọc tượng trưng cho 13 tiểu bang thuộc địa thời bấy giờ. Quốc kỳ Hoa Kỳ có hai phần. Một phần nhỏ ở góc trái trên cùng có hình ảnh của 50 ngôi sao trên nền màu xanh dương, tượng trưng cho 50 tiểu bang hiện tại. Phần chính gồm 7 sọc đỏ và 6 sọc trắng, tượng trưng cho 13 tiểu bang sơ khai.

Ý nghĩa của ba màu xanh, trắng, đỏ trên lá cờ Hoa Kỳ vẫn không thay đổi cho đến hiện nay. Màu đỏ tượng trưng cho lòng dũng cảm và nhiệt huyết, màu trắng nói lên niềm hy vọng trong sáng, nét tinh khiết của cuộc sống và tinh thần kỷ luật, trong khi màu xanh là hiện thân của màu sắc thiên đàng, biểu tượng của Thượng đế, lòng trung thành, niềm chân thành, công lý, và chân lý.

Ngôi sao, theo như biểu tượng xa xưa trong văn hóa Ấn Ðộ, Ba Tư, và Ai Cập, tượng trưng cho chủ quyền. Trên lá cờ Hoa Kỳ, mỗi một ngôi sao tượng trưng cho chủ quyền của một tiểu bang, do đó ngày nay lá cờ Mỹ gồm có 50 ngôi sao tượng trưng cho 50 tiểu bang, trong khi số sọc trên lá cờ vẫn được giữ ở con số 13, tượng trưng cho 13 tiểu bang đầu tiên của ngày lập quốc. Lễ chào cờ có ý nghĩa quan trọng cho mỗi công dân Hoa Kỳ vì nó nói lên lòng trung thành với tổ quốc.

Du Khách Biết Gì Về Quốc Kỳ, Quốc Ca Và Quốc Hoa Của Trung Quốc?

Quốc kỳ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949 sau khi Đảng Cộng sản Trung Hoa kiểm soát đại lục và thành lập Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Đôi khi quốc kỳ này được gọi là “Ngũ Tinh Hồng Kỳ”. Người thiết kế lá cờ đỏ năm sao là Tăng Liên Tùng. Trước khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hội nghị Trù bị của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Mới đã yêu cầu toàn quốc dự thảo quốc kì. Trong số vài ngàn bản dự thảo đã lựa chọn ra được đồ án quốc kỳ là lá cờ đỏ năm sao do Tăng Liên Tùng thiết kế. Ngày 27/9/1949, Hội nghị Toàn thể lần Thứ Nhất của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Toàn quốc đã thông qua quyết nghị: quốc kì của nước Cộng hòa Nhn dân Trung Hoa là lá cờ năm sao nền đỏ. Từ đó đã ra đời lá cờ quốc kỳ trang nghiêm mỹ lệ của nước Trung Quốc mới.

Vào trước năm 1949 nước Trung Hoa mới ra đời, trong lịch sử Trung Quốc từng xuất hiện những lá Quốc kỳ như thế nào?

Sau cuộc chiến tranh Nha Phiến năm 1840, các nước Phương Tây xâm lược Trung Quốc, trong các hoạt động ngoại giao đàm phán, ký điều ước, thông thương, cử quan chức ngoại giao … với các nước phương Tây, Lý Hồng Chương thấy phía các nước đó đều treo quốc kỳ trang nghiêm của nước họ, vậy mà phía Trung Quốc lại không có quốc kỳ để treo, ông ta cảm thấy mất đi vẻ “Uy nghi của triều đình”. Thế là ông ta liền tâu lên Từ Hy Thái Hậu. Bà Từ Hy liền lệnh cho Lý Hồng Chương bố trí cho người thiết kế đồ án Quốc kỳ. Sau đó Lý Hồng Chương dâng lên phương án các đồ án của Quốc kỳ gồm: cờ Bát quái, cờ Hoàng long, cờ Kỳ lân và cờ Hổ báo để bà Từ Hy lựa chọn. Năm 1862, bà Từ Hy quyết định sử dụng cờ mang đồ án Hoàng Long làm Quốc kỳ của triều đình nhà Thanh.

Hình con rồng màu vàng chính là tượng trưng cho Hoàng đế nhà Thanh, lấy hình con rồng vàng làm Quốc kỳ mang ý nghĩa là “Trẫm chính là quốc gia”.

Ngày 10 tháng 1 năm 1912, triều đình nhà Thanh bị lật đổ, cờ Hoàng Long cũng đã bị Chính phủ Trung Hoa dân quốc đổi thành cờ Thanh thiên bạch nhật.

Quốc kỳ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là lá cờ đỏ có năm ngôi sao. Lá cờ đỏ năm ngôi sao nom trang nghiêm mà giản dị. Mặt cờ màu đỏ hình chữ nhật, tỷ lệ giữa chiều dài và chiều cao là ba phần hai, năm ngôi sao năm cánh màu vàng được đặt ở góc trên bên trái, trong đó có một ngôi sao to hơn, bốn ngôi sao nhỏ hơn được trải thành vòng cung ở bên phải ngôi sao lớn, ngôi sao nào cũng có một góc chiếu thẳng vào trung tâm điểm của ngôi sao lớn.

Màu đỏ tượng trưng cho cách mạng. Tuy nhiên việc không công bố chính thức ý nghĩa của 5 ngôi sao nên điều này vẫn là điều bí ẩn và khiến mọi người hoài nghi, đồn đoán các giả thuyết.

– Năm ngôi sao tượng trưng cho sự đoàn kết của nhân dân cách mạng đại đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa. Trong đó bốn ngôi sao nhỏ tượng trưng cho lực lượng của cách mạng bao gồm giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị và tư sản dân tộc đứng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa là ngôi sao lớn.

– Ngôi sao lớn tượng trưng cho Trung Quốc, bốn ngôi sao nhỏ tượng trưng cho Đông di, Tây Nhung, Nam Man, Bắc Địch.

– Năm ngôi sao tượng trưng cho 5 dân tộc lớn ở Trung Quốc, ngôi sao lớn là Hán, 4 ngôi sao nhỏ là Hồi, Mông, Tạng, Mãn.

– Năm ngôi sao lớn tượng trưng cho đại lục, 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho 4 khu tự trị.

“Hành khúc nghĩa dũng quân” (phồn thể: 義勇軍進行曲, giản thể: 义勇军进行曲) là quốc ca của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được nhà thơ và soạn giả ca kịch Điền Hán viết lời và Niếp Nhĩ phổ nhạc vào khoảng giữa giai đoạn Chiến tranh Trung – Nhật (1937-1945). Bài này thuộc thể loại hành khúc.

Bài này lần đầu tiên được dùng làm quốc ca là trong một hội thảo quốc tế tổ chức tại Praha, Tiệp Khắc tháng 2 năm 1949. Vào thời gian đó Bắc Kinh vừa lọt vào tầm kiểm soát của những người cộng sản Trung Quốc. Lúc đó nổ ra một tranh luận xung quanh câu “Đất nước Trung Hoa đã gặp lúc hiểm nguy”. Nhà sử học Quách Mạt Nhược liền đổi câu trên thành “Dân tộc Trung Quốc đã đến hồi giải phóng”.

Ngày 27 tháng 9 năm 1949, toàn thể đại biểu của hội nghị Chính Hiệp nhất trí thông qua, trước khi xét định quốc ca của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm quốc ca. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến không đồng ý đối với câu thứ ba. Khi đó Chu Ân Lai đưa ra đánh giá cuối cùng: “Trước mắt chúng ta vẫn còn kẻ thù đế quốc. Chúng ta càng tiến, kẻ thù sẽ càng tìm cách tấn công và phá hoại chúng ta. Liệu có thể nói là chúng ta sẽ không còn nguy hiểm không?” Quan điểm này được Mao Trạch Đông tán thành và vào ngày 27 tháng 9 năm 1949, bài này trở thành quốc ca tạm thời, chỉ vài ngày trước khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập. Đến kỳ họp thứ nhất quốc hội Trung Quốc khóa 5 vào năm 1978, lại thông qua việc chính thức lấy bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” làm quốc ca.

Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Điền Hán bị bắt giam, và cũng vì thế mà bài “Hành khúc nghĩa dũng quân” cũng bị cấm hát; kết quả là trong giai đoạn đó bài “Đông phương hồng” được chọn làm quốc ca không chính thức.

“Hành khúc nghĩa dũng quân” được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc khôi phục lại vào năm 1978, nhưng với lời khác hẳn; tuy vậy, lời ca mới không được thông dụng lắm và thậm chí gây nhầm lẫn [1]. Vào ngày 4 tháng 12 năm 1982, Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc thống nhất chọn lại bản gốc năm 1935 của Điền Hán làm quốc ca chính thức. Điểm nổi bật trong lời hiện nay là không đề cập đến Đảng cộng sản Trung Quốc lẫn Mao Trạch Đông và việc quay lại lời ca cũ đánh dấu sự đi xuống của Hoa Quốc Phong và tệ sùng bái cá nhân đối với Mao cũng như uy thế đi lên của Đặng Tiểu Bình.

Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc công nhận bài này là quốc ca chính thức của CHNDTH trong bản sửa đổi năm 2004 của Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Phần quốc ca được đề cập ngay sau phần nói về quốc kỳ.

3. MẪU ĐƠN – QUỐC HOA CỦA TRUNG QUỐC

Mẫu đơn là loài hoa biểu tượng cho sự giàu có, vương giả và sắc đẹp và đặc biệt mẫu đơn được tôn vinh ở Trung Quốc, được người dân nơi đây chọn làm quốc hoa.

Mẫu đơn có nguồn gốc từ Trung Quốc và Tây Tạng, là một trong những cây hoa được con người biết đến từ rất sớm, cách đây đã gần 4000 năm. Khi những nhà truyền giáo đạo Phật đến Nhật Bản, họ đã đem theo kiến thức về những bông hoa Mẫu đơn này. Người Nhật luôn là một dân tộc yêu hoa, nên bông hoa đẹp mới đến nhanh chóng trở thành một phần trong văn hóa của họ. Mẫu đơn là bông hoa của Tháng Sáu ở Nhật Bản. Từ Trung Hoa và Nhật Bản, nó chu du sang tận đỉnh núi Olympus, tìm cho mình một cái tên.

Peony được đặt tên theo Paeon, một thầy thuốc học trò của Thần Y Asclepius trong thần thoại Hy Lạp.Ông được nữ thần Leto (mẹ của thần Mặt Trời Apollo) mách bảo cách lấy được chiếc rễ thần kỳ mọc trên đỉnh Olympus mà nó có thể xoa dịu được cơn đau của người phụ nữ khi sanh nở. Asclepius trở nên ghen tức với Paeon. Để cứu Paeon thoát chết vì sự phẫn nộ của Asclepius, thần Zeus đã biến ông thành một bông Mẫu đơn là biểu tượng của sự thịnh vượng, phồn vinh. Từ xa xưa, loài hoa vương giả này chỉ thuộc sở hữu của giới quý tộc giàu có ở Trung Quốc. Bông hoa quốc sắc thiên hương này từng rất được ưu ái qua nhiều triều đại, với mệnh danh “Chúa của muôn hoa”.

Ngày xưa, khi treo một bức tranh hoa mẫu đơn màu hồng hoặc màu đỏ trong nhà có nghĩa là gia đình đó có những cô gái trẻ đang độ xuân thì. Có khá nhìều sự tích về hoa mẫu đơn. Chẳng hạn, câu chuyện về Bạch Mẫu Đơn, nàng tiên rất giỏi về nghệ thuật tình ái, hay những tương truyền về Dương Quý Phi, một người đẹp nghiêng nước nghiêng thành đã dùng hoa mẫu đơn trang trí trong phòng để thu hút sự đam mê và thường xuyên lui tới của Đường Minh Hoàng. Thành phố cổ nổi tiếng Lạc Dương của Trung Quốc có danh tiếng như là trung tâm nuôi trồng các loài mẫu đơn. Trong lịch sử Trung Quốc, mẫu đơn của Lạc Dương luôn được coi là đẹp nhất. Hàng loạt các cuộc triển lãm hoa mẫu đơn cũng được tổ chức ở đây hàng năm. Mẫu đơn cũng là loài hoa biểu trưng của bang Indiana từ năm 1957.

Ý Nghĩa Lịch Sử Của Quốc Kỳ Và Quốc Ca Việt Nam

Nhạc sĩ Văn Cao đã sống những năm cuối đời tại một căn gác nhỏ trên phố Yết Kiêu, Hà Nội. Tại đây, người thân của ông vẫn đang lưu giữ những kỷ vật về người nhạc sĩ tài hoa, trong đó có bài “Tiến quân ca” được cất giữ như một báu vật của gia đình.

Tham gia Việt Minh, nhiệm vụ của Văn Cao là viết một ca khúc để cổ vũ tinh thần cho đội quân cách mạng. Và “Tiến quân ca” đã ra đời vào năm 1944 và được in trên báo Độc lập do chính tác giả tự khắc bản nhạc lên phiến đá để in báo. Ngày 13/8/1945 trước khi Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhạc sĩ Văn Thao – Con trai cả của cố nhạc sĩ Văn Cao kể lại: “Ông đã nhìn thấy năm đó là năm nạn đói người chết rất nhiều, hàng ngày những xe bò đi thu nhặt xác chết và ông có một cảm xúc, một sự khơi dậy trong tình cảm, lòng căm thù vì sao mà lại có những cái cảnh này xảy ra trên đất nước mình. Vì thế, ông nghĩ là phải có một bài hát nào đó thúc giục chúng ta đứng lên”.

Còn tại một căn nhà nhỏ khác ở xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, Hà Nam cũng đang lưu giữ kỷ vật về một con người – ông Nguyễn Hữu Tiến, người được cho là tác giả của lá cờ đỏ sao vàng. Kỷ vật ấy là bức tranh ông Tiến phác thảo lá cờ do nhạc sỹ Văn Cao vẽ tặng.

Bà Nguyễn Thị Xu – Con gái liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến ngậm ngùi: “Khi còn đang hoạt động thì bố tôi vẽ ra mẫu cờ Tổ quốc nên bị bắt tù đầy. Rồi cụ mất lúc tôi hãy còn bé nên không gặp bố lần nào nữa. Ông Văn Cao và ông Sơn Tùng cũng về 1, 2 lần và mang cái ảnh cụ tôi vẽ ra lá cờ Tổ quốc”.

Ngày 2/9/1945, Tiến quân ca cùng cờ đỏ sao vàng hãnh diện tung bay trong ngày Bác Hồ bố cáo trước toàn thể quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hơn một năm sau, trong Điều 3 của bản Hiến pháp đầu tiên đã quy định Cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh và Quốc ca là bài Tiến quân ca.

PGS.TS. Phạm Xanh – Nhà nghiên cứu Lịch sử cho biết: “Màu đỏ của lá cờ là màu của cách mạng. Chúng ta giành lấy nền độc lập và giữ nền độc lập bằng máu của nhiều thế hệ dân tộc chúng ta. Ngôi sao vàng là màu của chủng tộc, chủng tộc da vàng, còn 5 cánh của ngôi sao là tựu chung cho sự đoàn kết của dân tộc của 5 lớp người: sĩ, nông, công, thương, binh. Và sự quy tụ đó là của khối đại đoàn kết dân tộc. Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa 1 năm 1946 trước đó có một số phần tử muốn thay Quốc kỳ nhưng cụ Hồ đã nói một lời kiên quyết trong kỳ họp thứ 2 đó rằng quyền đó không phải là quyền của Quốc hội mà là quyền của 25 triệu người dân Việt Nam. Chỉ khi 25 triệu người dân Việt Nam quyết định thay lá cờ, thay quốc ca thì Quốc hội mới có quyền thay”.

Và sau khi đất nước được thống nhất, mặc dù trong các bản Hiến pháp năm 1959 và 1980 chỉ quy định rõ Quốc kỳ mà không quy định rõ về Quốc ca, nhưng trong phiên họp Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất vào năm 1976, nhạc và lời của bài Tiến quân ca vẫn được Quốc hội quyết định là Quốc ca của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

68 năm kể từ ngày nước Việt Nam có Quốc ca và Quốc kỳ, bài Tiến quân ca và lá cờ đỏ sao vàng đã đi cùng với dặm đường trường chinh dân tộc Việt Nam. Và gần đây, dù có một vài ý kiến đề nghị thay đổi lời của bài Quốc ca, nhưng lời của bài Tiến quân ca thúc giục người Việt Nam tiến lên vì Tổ quốc và lá cờ đỏ sao vàng “in máu chiến thắng mang hồn nước” vẫn tiếp tục được quy định trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 giống như bản Hiến pháp hiện hành.

Chương 245: Năm Ngôi Sao Trên Quốc Kì Trung Quốc Có Ý Nghĩa Gì?

Quốc kì là biểu tượng của quốc gia. Quốc kì của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là lá cờ đỏ có năm ngôi sao. Lá cờ đỏ năm ngôi sao nom trang nghiêm mà giản dị. Mặt cờ mầu đỏ hình chữ nhật, tỷ lệ giữa chiều dài và chiều cao là ba phần hai, năm ngôi sao năm cánh mầu vàng được đặt ở góc trên bên trái, trong đó có một ngôi sao to hơn, bốn ngôi sao nhỏ hơn được trải thành vòng cung ở bên phải ngôi sao lớn, ngôi sao nào cũng có một góc chiếu thẳng vào trung tâm điểm của ngôi sao lớn.

Năm ngôi sao trên lá cờ đỏ năm sao vốn có ý nghĩa sâu sắc. Ngôi sao năm cánh to nhất tượng trưng cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, bốn ngôi sao nhỏ vây quanh ngôi sao lớn tượng trưng cho tinh thần đại đoàn kết giữa nhân dân các dân tộc Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Người thiết kế lá cờ đỏ năm sao là Tăng Liên Tùng. Trước khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hội nghị Trù bị của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Mới đã yêu cầu toàn quốc dự thảo quốc kì. Trong số vài ngàn bản dự thảo đã lựa chọn ra được đồ án quốc kì là lá cờ đỏ năm sao do Tăng Liên Tùng thiết kế.

Ngày 27 tháng Chín năm 1949, Hội nghị Toàn thể lần Thứ Nhất của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Toàn quốc đã thông qua quyết nghị: quốc kì của nước Cộng hòa Nhn dân Trung Hoa là lá cờ năm sao nền đỏ. Từ đó đã ra đời lá cờ quốc kì trang nghiêm mỹ lệ của nước Trung Quốc mới.

TRƯƠNG LƯƠNG NHẤT

Giơnevơ là thành phố nổi tiếng của Liên bang Thụy Sĩ, một nước Trung Âu. Thành phố này nằm ở miền tây nam Thụy Sĩ, trên bờ hồ Giơnevơ gợn sóng xanh biếc. Giữa hồ có một suối phun nước nhân tạo, cột nước phun lên có chiều cao hơn 100m. Con sông Lanơ trong mát chảy xuyên qua thành phố, phân Giơnevơ thành hai khu phố cổ và mới. Khu phố cổ có nhiều di tích danh thắng của thời kì Trung Thế kỉ, các công trình kiến trúc hiện đại và các công viên trồng đầy hoa cỏ ở khu phố mới trang điểm cho Giơnevơ trở nên hết sức lộng lẫy.

Giơnevơ không những là một địa điểm du lịch nổi tiếng thế giới mà còn là một thành phố có tính chất quốc tế. Nhiều tổ chức quốc tế đã đặt trụ sở ở đây. Chẳng hạn Văn phòng châu Âu của Liên hợp quốc, Tổ chức Y tế Thế giới, Tổ chức Chữ thập đỏ quốc tế. Nhiều hội nghị quốc tế quan trọng cũng được triệu tập ở đây.

Giơnevơ cũng có rất nhiều lưu học sinh nước ngoài. Trên thế giới không có trường đại học nào giống như trường đại học Giơnevơ. Các lưu học sinh nước ngoài còn đông hơn cả sinh viên trong nước, chiếm khoảng 60% tổng số sinh viên trong trường. Sở dĩ Giơnevơ là thành phố mang tính quốc tế vì Thụy Sĩ là một quốc gia trung lập.

Bắt đầu từ thế kỉ XVI, Thụy Sĩ thực hiện đường lối trung lập. Năm 1815 lại tuyên bố trở thành một nước mãi mãi trung lập. Như vậy tức là nói dù trong thời kì hòa bình hay thời kì chiến tranh, nước này sẽ vĩnh viễn giữ thái độ trung lập trừ trường hợp phải chống lại những kẻ xâm lược ngoại lai để tự vệ. Thụy Sĩ không đánh nhau với bất kì quốc gia nào, không giúp đỡ một phe nào trong các quốc gia giao chiến, cũng không tham gia các khối liên minh quân sự và không cho phép lãnh thổ của nước mình bị nước khác dùng vào mục đích cn tranh. Vì thế sau nhiều giao tranh xảy ra trên thế giới và hai cuộc đại chiến, lãnh thổ của Thụy Sĩ không hề bị ngọn lửa chiến tranh tàn phá.

Thành phố Giơnevơ tồn tại nhiều năm trong hoàn cảnh hòa bình, lại thêm khí hậu ôn hòa, phong cảnh tươi đẹp, cho nên tự nhiên đã trở thành một nơi tốt đẹp để cử hành các hội nghị quốc tế.

VŨ DUNG CHI