Top 3 # Ý Nghĩa Quan Trọng Nhất Của Phong Trào Đồng Khởi Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Drosetourmanila.com

Phong Trào Đồng Khởi (1959

Chính quyền Mỹ đẩy mạnh trao quyền lực và trang bị cho tay sai Giai đoạn 1957 – 1959: Mỹ – Diệm tăng cường “tố cộng”, “diệt cộng”: Ngô Đình Diệm gây khó khăn cho cuộc sống của người dân nước ta. Vào tháng 5/1957, Chính quyền Diệm ban hành đạo luật 10/59 đẩy mạnh tàn sát khắp nơi. Nhân dân lầm than, hoạt động kinh tế trì trệ.

Tháng 1/1959: Hội nghị TW lần 15 đã quyết định: Cho phép nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân bằng con đường đấu tranh chính trị là chủ yếu, kết hợp với đấu tranh vũ trang. Khắp nơi người dân, lực lượng quân đội nước ta đứng lên đấu tranh chống lại quân xâm lược từng bước giảm bớt sự đàn áp, chống phá. Các cuộc đấu tranh như Bắc Ái (02/1959), Trà Bồng (08/1959)…

Ngọn lửa chiến tranh sục sôi ở khớp nơi, đỉnh điểm là phong trào Đồng Khởi ở tỉnh Bến Tre. Tiếp theo các phong trào nổi ra liên tục ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre khiến bọn Mỹ – Diệm phải dè chừng. Sau đó lan rộng ra các tỉnh khác như Giồng Trôm, Thạnh Phú, Ba Tri,…Thời gian này, phong trào này được đánh giá cao vì khuấy động cuộc đấu tranh quyết liệt và giành được nhiều thắng lợi.

Các cuộc nổi dậy chống chính quyền tay sai của bọn xâm lược lan rộng ra khắp các tỉnh miền Tây, miền Nam và các tỉnh còn lại. Cho tới cuối năm 1960, ở nhiều nơi, quân dân ta đã giành được quyền làm chủ và đẩy lùi được bọn giặc.

Sự thành công của phong trào đã chiếm được nhiều vùng rộng lớn và thúc đẩy sự thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960).

Nguyên nhân phong trào Đồng Khởi Bến Tre

Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam tổ chức lần thứ 5 mở đầu cho các cuộc đấu tranh bằng vũ trang ở Miền Nam. Diễn biến phong trào Đồng Khởi vô cùng khốc liệt, quân dân ta củng cố lực lượng, nỗ lực hết sức mình để áp chế sự chống phá, tàn bạo của chính quyền Diệm.

Vào ngày 2/1/1960, các cấp lãnh đạo tỉnh Bến Tre đã tổ chức họp tại xã Tân Trung, quyết định sẽ phát động tuần lễ giải phóng lãnh thổ, các vùng đất. Phá vỡ thế kìm kẹp, chống đối, phá hoại của quân địch và giành lấy thế chủ động. Mở ra nhiều điểm đột phá lớn, chủ yếu ở cù lao Minh và Mỏ Cày.

Vào tháng 1/1960, phong trào Đồng Khởi nổi lên đúng như dự kiến ở các xã bao gồm Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh. Sau vài ngày, các xã được dân ta giải phóng hoàn toàn, người dân tự do và lại tiếp tục đứng lên chiến đấu giải phóng khu vực khác. Tiếp tục phong trào nổ ra ở Giồng Trôm, cac tỉnh trọng điểm liên tiếp nhân dân vùng lên.

Tháng 6/1960, phong trào Đồng Khởi nổi ra trên toàn lãnh thổ miền Nam. Tới 24/9/1960, lực lượng cộng sản ở Bến Tre tiến hành khởi nghĩa lan rộng sang vùng lân cận. Ở khu vực Tây Nam Bộ và Đông Nam bộ, phong trào nổi ra liên tiếp của quân dân để giành chính quyền.

Phong trào đã phá vỡ từng mảng lớn bộ máy cai trị của địch ở nhiều vùng nông thôn, trên cơ sở đó chính quyền nhân dân được thành lập.

Từ phong trào Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (20/12/1960) đại diện cho nhân dân miền Nam.

Bên cạnh đó, phong trào còn làm phá sản chiến lược chiến tranh một phía của Mỹ.

Phong trào Đồng Khởi kết thúc vào cuối năm 1960 với sự tan rã của chính quyền Việt Nam cộng hòa ở khắp mọi nơi. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời và lãnh đạo phong trào đấu tranh cho nhân dân ta vào năm 1960.

Ở toàn miền Nam thì trong số 2.627 xã đã có 1.383 xã giành được quyền tự quản. Cuối 1960, nhân dân ta đã làm chủ hơn ½ hệ thống chính quyền ở cấp cơ sở: 600/ 1298 xã Nam Bộ, 904/ 3829 thôn trung bộ, 3200/ 5721 thôn Tây Nguyên.

Sự khốc liệt của cuộc đấu, nhân dân ta quyết không nhượng bộ trước sự tàn ác của dân tay sai và Mỹ ngụy. Chính quyền Ngô Đình Diệm thất bại nặng nề trước sự tấn công liên tiếp, và bị thiệt hại nặng nề.

Số lượng người dân giành được ruộng đất thoát khỏi ách thống trị của chính quyền tay sai nhiều hơn. Sau đó Mặt trận tiến hành phân chia đều lại cho nhân dân sử dụng, kiếm sống quanh năm. Tính đến năm 1960 là cuộc cải cách điền địa này giải phóng được tầm 17 vạn hecta ruộng đất.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập, số lượng thành viên đăng ký tham gia ngày một đông hơn và cống hiến hết sức cho cuộc chiến chống bọn xâm lược. Đó là cuộc chiến không phải ngày một ngày hai mà phải vô cùng bền bỉ và chịu hy sinh nhiều. Bên cạnh những thành tựu thì hậu quả để lại cũng rất nhiều.

Vào đầu năm 1961, Quân Giải phóng miền Nam được thành lập, thống nhất các đội quân du kích, quân giải phóng thành tổ chức hợp nhất. Số lượng thanh niên tham gia vào tổ chức đông hơn để góp sức đấu tranh bảo vệ Tổ Quốc.

Diễn biến phong trào Đồng Khởi Bến Tre

Phong trào đã giáng một đòn vô cùng nặng nề vào chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ, làm lung lay chính quyền Ngô Đình Diệm.

Đồng thời cũng đánh dấu bước phát triển của Cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.

Từ khí thế của phong trào Đồng Khởi, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đã ra đời ngày 20/12/1960.

Ý nghĩa của phong trào Đồng Khởi là gì?

Tác giả: Việt Phương

Nguyên Nhân, Diễn Biến, Kết Quả &Amp; Ý Nghĩa Của Phong Trào Đồng Khởi (1959

Nguyên nhân, Diễn Biến, Kết Quả & Ý Nghĩa của Phong trào đồng khởi (1959 – 1960)

a) Nguyên nhân: (Chính sách phản động của Mĩ – Diệm đã làm mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt). – Dưới ách thống trị bạo tàn của mĩ diệm nhân dân miền Nam không nhưng phải sống trong tình cảnh đất nươcs bị chia cắt mà từng ngày từng giờ còn bị chúng áp bức, bocvs lột, tù đầy, chém giết làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam với chế độ mĩ – diệm ngày càng gay gắt. – Từ 1957 Ngô Đình diệm tiến hành chính sách “tố cộng” “Diệt cộng” T5/1959 chúng lại ban hành đạo luật 10 -59 lê máy chém đi khắp miền Nam hành động khủng bố điên cuồng của chúng chỉ chứng tỏ chúng càng suy yếu bị cô lập. Tình hình đó buộc nhân dân miền Nam phải dùng bạo lực để giàng quyền làm chủ. Cùng với đấu tranh chính trị hình thức đấu tranh vũ trang tự vệ trừ gian, diệt ác bắt đầu xuất hiện và ngày càng lan rộng, cơn bão táp cách mạng đang ấp ủ, phong trào cách mạng đang trên đà củng cố cả về thế và lực. Một số nơi quần chúng đã nổi dạy(bắc ái T2/1959) . – Giữa lúc đó hội nghị BCH TW Đảng lần thứ XI họp 3/1/1959 và xác định phương hướng cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân bằn con đường dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu , kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ ách thống trị của mĩ diệm. Nghị quyếtt TW XV phản ánh đúng yêu cầu của lịch sưt, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam trong tình thế thực sự chín muồi, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của toàn dân, là ngọn lửa dấy lên phong trào đồng khởi.

b) Diễn biến: – Được nghị quyết TW XV soi sáng phong trào nổi dạy của quần chúng từ chỗ lẻ tẻ ở từng địa phương đã lan rộng khắp miền Nam thành cao trào đồng khởi. Mở đầu là cuộc khởi nghĩa ở Bắc ái (T2/1959) Trà Bồng (T8/1959) tiêu biểu nhất là phong trào đồng khởi bến trư (17/1/160( dưới sự lãnh đạo của tỉnh uỷ Bến tre nhân dân các xã Định Thuỷ, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện mỏ cầy bến tre với gậy gộc, giáo mác, súng ống đủ loại, đồng loạt nổi dậy diệt ác ôn, giải tán chính quyền địch, tạo thế uy hiếp chúng. Từ 3 xã điểm cuộc nổi dạy lan nhanh ra toàn huyện Mỏ Cày và tỉnh Bến Trư. QUân khởi nghĩa đã phá vỡ từng mảng lớn bộ máy chính trị và hệ thống kìm kẹp của địch ở thôn xã. ở những nơi đó UBND tự quản được thành lập, lực lượng vũ trang nhân dân được thành lập và phát triển. – Ruộng đất của bọn địa chủ, cường hào bị tịch thu đem chia cho dân cày nghèo. – Từ bến tre phong trào đồng khởi như tức nước vỡ bờ lan rộng khắc nam bộ, T. Nguyên và một số nơi ở miền trung bộ.

c) Kết quả: – Tính đến cuối 1960 tại các tỉnh nam bộ cách mạng làm chủ 600 trong tổng số 1298 xã, trong đó có 116 xã hoàn toàngp. ở các tỉnh ven biển trung bộ có 904 trong tổng số 3829 thôn được giải phóng. ở tây nguyên có tới 32000 thông trong tổng số 5721 thôn được giải phóng. – Cuộc đồng khởi đã dáng 1 đòn nặng vào chính sách thực dân kiểu mới của mĩ, làm thất bại hoàn toàn chiến tranh đơn phương của chúng, đã tác động mạnh và làm lung lay tận gốc chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. – Từ trong khí thế đó ngày 20/12/1960 mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời với chủ trương đoàn kết toàn dân kiên quyết đất tranh chống ĐQ mĩ xâm lược và tay sai Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền liên minh dân tộc, dân chủ rộng rãi ở miền Nam. Thực hiện độc lập dân tộc, tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất tổ quốc. – Sau phong trào đồng khởi lực lượng cách mạng miền Nam phát triển nhanh chóng, các đoàn thể cách mạng của nông dân, thanh niên, phụ nữ, các lực lượng vũ trang tập trung lần lượt ra đời.

d) Ý nghĩa. – Phong trào đồng khởi 1959 – 1960 thắng lợi đã giáng 1 đòn mạnh vào chính sách thực dân mới của mĩ, làm thất bại hoàn toàn chiến tranh đơn phương của mĩ, diệm và đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam , chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.

Vì Sao Đá Hồ Ly Phong Thủy Có Ý Nghĩa Quan Trọng Như Vậy?

Truyền thuyết hồ ly phong thủy

Hồ Ly có thể tu hành luyện đạo theo truyền thuyết. Và Hồ Ly có 3 cái đuôi được mọc ra sau 100 năm nó tu luyện. Quá trình tu luyện này sẽ dừng lại khi đạt cảnh giới cao nhất là mọc ra thành 9 đuôi. Quan niệm rằng mỗi chiếc đuôi tương ứng với một mạng của Hồ Ly. Nếu muốn tiêu diệt Hồ Ly thì phải chặt hết tất cả các đuôi trước.

Hồ Ly thường được gọi là cáo cái và không có khả năng tự sinh con. Hồ Ly mẹ uống thuốc tiên đã được tu luyện ngàn năm sinh ra Hồ Ly con. Khi hóa làm người Hồ Ly cái thường rất thông minh, xinh đẹp, có sức hấp dẫn. Có khả năng quyến rũ được đàn ông để thực hiện âm mưu đã đặt ra trước đó.

Sở thích của Hồ Ly là thích ăn thịt gà vì nó vốn là cáo. Màu lông của nó lại khác hẳn so với cáo thường. Tùy thuộc vào số năm tu luyện mà màu lông của nó cũng biến đổi theo. Nếu khi tu luyện đạt được đến cảnh giới thì lông của nó có màu hồng hoặc đen tuyền. Hồ Ly ưa lạnh nên rất thích sống ở trong hang động. Mỗi khi ra khỏi hang động đều thay đổi hình dạng. Nó chỉ hiện nguyên hình là một con cáo chỉ khi chết. Các lão Hồ Ly già thường tiên đoán rất chính xác. Đứng đầu của giới Hồ Ly được gọi là ” Hồ cung chủ “.

Ý nghĩa của hồ ly trong phong thủy

Khi đeo trang sức đá hồ ly liệu có ý nghĩa gì? Theo quan niệm dân gian của Hồng Kông thì khi đeo đá hồ ly sẽ giúp cải thiện vận số may mắn, tốt đẹp hơn.

– Kết nối nhân duyên: Người ta tin rằng, phụ nữ đeo đá hồ ly phong thủy sẽ có thêm vận may về chuyện tình cảm. Nếu ai còn độc thân thì sẽ sớm tìm được nửa kia phù hợp. Giúp cho tình cảm vợ chồng luôn thắm thiết, ngăn chặn có kẻ khác phá hoại hạnh phúc gia đình. – Thúc đẩy các mối quan hệ hài hòa: Dù là trong bất cứ mối quan hệ nào thì đeo đá hồ ly sẽ có tác dụng hỗ trợ và thúc đẩy quan hệ tốt đẹp. – Tăng vận may tài lộc: Muốn con đường sự nghiệp thành công thu lại được nhiều tài lộc thì việc đeo đá hồ ly cũng có tác dụng rất lớn.

Chất liệu để tạc hồ ly

Đá tự nhiên được hấp thụ những gì tốt nhất của trời đất. Vì vậy khi tạc hồ ly nên chọn loại đá này. Không nên sử dụng loại đá bột ép, nhựa. Vì nó không những không mang lại cát khí mà đôi khi còn bị tác dụng ngược.

Hình dáng hồ ly thế nào là chuẩn?

Hiện nay có rất nhiều kiểu dáng mặt dây chuyền hồ ly nhưng cần chú ý vào 3 đặc điểm: số đuôi, ánh mắt, mũi.

– Số đuôi: nên chọn hồ ly có 9 đuôi (cửu vĩ hồ ly), hồ ly 3 đuôi, hồ ly 6 đuôi (Lục Vĩ Ma Hồ). – Ánh mắt: chọn ánh mắt thể hiện sự tinh ranh, sắc xảo. Hồ ly mắt không sắc nhìn không có thần thái, không nên chọn. – Mũi nhọn: hình dáng chiếc mũi nhọn là đặc điểm dễ nhận biết nhất của hồ ly.

– Mệnh Kim phù hợp với màu vàng, nâu, trắng, xám, ghi (khói). – Mệnh Mộc phù hợp với màu đen, xanh nước biển, xanh lá cây, xanh da trời. – Mệnh Thủy phù hợp với màu trắng, xám, ghi (khói), đen, xanh nước biển. – Mệnh Hỏa phù hợp với màu đỏ, hồng, tím, xanh lá cây. – Mệnh Thổ phù hợp với màu đỏ, hồng, tím, vàng, nâu.

Những điều cấm kỵ khi dùng hồ ly phong thủy

Nếu bạn mang hồ ly đến đền chùa hay nơi linh thiêng để thỉnh vái thì nên mang chúng bên người khi đi. Bạn nên thành tâm khấn vái thì tác dụng của hồ ly sẽ được tốt hơn.

Nếu đeo dây chuyền hồ ly, hãy dùng chúng vào những việc lành mạnh. Như cầu duyên, cầu tài lộc chứ không nên làm những việc xấu xa, thất đức.

Cùng Danh Mục:

Miễn Học Phí Có Ý Nghĩa Quan Trọng

GD&TĐ – Việc sửa đổi toàn diện Luật Giáo dục nhằm tạo cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực. Vấn đề miễn học phí đối với trẻ mầm non và THCS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đặc biệt đối với vùng núi, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Chính sách học phí mang ý nghĩa nhân văn trong Luật GD (sửa đổi)

Bên cạnh đó, từng bước nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu của Chương trình GD mới. Đó là chia sẻ của một số Bí thư Đoàn khi góp ý về Luật Giáo dục sửa đổi.

Phân loại đối tượng học sinh được miễn học phí

Chị Ma Thị Mận, Bí thư huyện Đoàn Ba Bể (Bắc Kạn) cho biết: “Với tư cách là người có thời gian công tác trong ngành Giáo dục tại vùng sâu vùng xa (7 năm tại Phòng GD&ĐT), trực tiếp được làm việc với học sinh, giáo viên vùng dân tộc thiểu số, tôi cho rằng, việc miễn học phí đối với trẻ mầm non và THCS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Đây là chủ trương nhân văn, đặc biệt là đối với HS miền núi bởi đời sống của đồng bào các dân tộc ở một số địa bàn miền núi còn nhiều khó khăn, điều kiện để người dân duy trì cuộc sống và trang cấp những điều kiện tối thiểu cho con đi học còn hạn chế. Tình trạng một số học sinh ở các bậc học cao hơn, khi không được miễn học phí, các em bỏ học giữa chừng là không ít. Do đó, chính sách này sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho HS dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn đến trường, duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục.

Tuy nhiên, theo ý kiến cá nhân tôi, việc miễn học phí trong tương lai cần phân loại theo đối tượng học sinh để chính sách này thực sự đúng việc, đúng đối tượng.

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện cần có sự phối hợp đồng bộ, kiểm soát chặt chẽ của các cấp quản lý giáo dục, tránh tình trạng không thu học phí nhưng thực tế lại thay bằng các khoản thu dưới hình thức “xã hội hóa” khác được áp dụng tại một số trường học.

Đồng thời, trong tương lại, Chính phủ có thể hỗ trợ học sinh, các cơ sở giáo dục dưới hình thức khác để nâng cao chất lượng dạy và học cho học sinh và giáo viên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, để giáo dục thực sự có sự tương tác chủ động giữa người học và người dạy, làm cho việc đi học của học sinh thực sự là mong muốn chứ không dừng lại ở việc vì nó miễn phí”.

Nâng chất đội ngũ giáo viên

Góp ý tại khoản 1 Điều 119 về chính sách nâng chuẩn trình độ được đào tạo đối với giáo viên mầm non, chị Ma Thị Mận cho rằng, cùng với xu thế phát triển chung, việc nâng chuẩn nghề nghiệp của giáo viên nói chung và giáo viên mầm non nói riêng là điều cần thiết, từng bước nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu của Chương trình GD mới.

Anh Nguyễn Trung Đức, Bí thư Đoàn Thanh niên, Tổng Công ty cổ phần Sông Hồng cho rằng: Về quy định nâng chuẩn giáo viên bậc mầm non (từ trung cấp lên cao đẳng sư phạm) và bậc tiểu học (đạt trình độ đại học) với lộ trình thực hiện từ nay đến năm 2026, đó là việc làm cần thiết. Vì chất lượng GD-ĐT các cấp nâng lên cao thì phải nâng cấp đồng bộ đội ngũ giáo viên.

Đặc biệt là chất lượng giáo dục mầm non, bởi trường mầm non không chỉ là nơi giữ trẻ mà là một nơi để đào tạo các lứa tuổi mầm non. Vì thế, đội ngũ giáo viên cần được đào tạo và bồi dưỡng đúng với chuyên môn và sát thực tế để phát triển và hiểu được tư duy của trẻ.

Theo anh Đức, chính sách không thu học phí đối với trẻ em mầm non 5 tuổi, học sinh THCS trường công lập và hỗ trợ đóng học phí đối với trẻ em, học sinh diện phổ cập tại cơ sở giáo dục dân lập là rất hợp lý. Để chính sách ưu việt này được triển khai khả thi, có hiệu quả, cần quy định rõ hơn về lộ trình thực hiện, triển khai theo từng vùng.

Phân vùng miễn học phí để khuyến khích các em vùng khó khăn chăm học, giảm bớt gánh nặng chi tiêu cho gia đình đồng thời xây dựng được uy tín của Nhà nước, ngành Giáo dục với nhân dân vùng cao, trong khi họ đang thiếu nhận thức đến các vấn đề phát triển của đất nước, đặc biệt là giáo dục.

Đặc biệt mức thu học phí tại các trường công lập và dân lập đang chênh lệch khá cao. Điều đó cho thấy rằng, chất lượng đào tạo giảng dạy công lập và dân lập đang khác nhau rõ rệt. Đó cũng là lý do cần nâng cấp chất lượng đội ngũ giáo viên đồng bộ; Lựa chọn giáo viên giảng dạy phù hợp với ngành học.