Top 9 # Ý Nghĩa Màu Vàng Trong Phật Giáo Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Drosetourmanila.com

Ý Nghĩa Hoa Sen Trong Phật Giáo

Ý nghĩa của hoa sen trong Phật Giáo

Hoa sen từ trước đến nay đã được biết đến là một loài hoa có vị trí quan trọng trong văn hóa của nhiều nước khu vực châu Á trong đó có Việt Nam. Bên cạnh việc là biểu tượng đại diện cho nhiều sự kiện văn hóa quan trọng, hoa sen còn là loài hoa của Phật Giáo với nhiều ý nghĩa về sức mạnh, quyền lực và sự thiêng liêng.

Cụ thể, hoa sen là một trong tám biểu tượng của Phật giáo, truyền thuyết xưa kể lại rằng, khi Đức phật Thích Ca ra đời, ngài đi bảy bước thì có bảy hoa sen nở đỡ dưới bàn chân ngài, bên cạnh đó các chư Phật, Bồ tát cũng thường được miêu tả đứng hoặc ngồi trên đài sen vàng. Một trong những dòng kinh nổi tiếng là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng lấy hoa sen làm đề kinh. Điều này có thể cho thấy được hoa sen có một chỗ đứng quan trọng và không thể thay thế trong Phật Giáo.

Vậy vì lý gì mà hoa sen được đề cao trong đạo Phật như thế? Nhắc đến điều này, đầu tiên ta phải kể đến đặc tính có một không hai và không thể tìm được ở loài hoa nào khác của hoa sen. Cụ thể, hoa sen là một loài hoa thân thảo, với củ sen được vùi dưới bùn đất, nảy mầm, mọc xuyên qua nước và nở hoa, ra lá ngay trên mặt hồ. Đây cũng là loài thực vật duy nhất trên thế giới tính đến hiện tại có hoa và quả (gương sen) tồn tại cùng lúc.

Đặc biệt, dù mọc ra từ bùn đất nhưng hoa sen lại mang vẻ đẹp tinh khiết không nhiễm bụi trần. Hoa sen không hề bị hút mật bởi các loài ong bướm mà có thể tồn tại riêng biệt từ lúc hoa nở cho đến khi hoa tàn.

Trong đạo Phật, hoa sen được coi là biểu tượng đại diện cho 8 đặc tính của người tu Phật: Không nhiễm – Trừng thanh – Kiên nhẫn – Viên dung – Thanh lương – Hành trực – Ngẫu không – Bồng thực với những đặc điểm như sau:

Ý nghĩa không nhiễm của hoa sen trong Phật Giáo

Hoa sen trong văn hóa từ xưa đến nay đã luôn là một loài hoa tượng trưng cho sự thanh khiết “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Dù mọc ra từ củ sen ngâm mình nhiều ngày trong bùn đất nhưng hoa sen vẫn vươn mình lên khỏi mặt nước rồi mới khoe sắc, nở hoa. Ở đây, bùn đại diện cho sự ô nhiễm, còn hoa là sự thanh tịnh, điều này nói lên ý nghĩa là các chư Phật, Bồ tát ra đời, dù các ngài vẫn sinh hoạt trong dòng đời nhưng không bao giờ bị cấu nhiễm, bị ảnh hưởng bởi trần thế.

Bên cạnh đó, hình ảnh hoa sen cũng là biểu tượng với ý nghĩa mỗi người trong chúng ta đều có Phật tính. Mà Phật tính vốn không nhiễm, chỉ là trong cuộc sống, do các nguyên nhân khác nhau mà ta tạo ra nhiều tội lỗi để từ đó bị mắc vào trần lao ô nhiễm mà thôi.

Trừng thanh – Ý nghĩa hoa sen trong đạo Phật

Trừng thanh có ý nghĩa là lọc, gạn, làm trong suốt. Hoa sen có một đặc tính đại diện cho tính trừng thanh trong đạo Phật, đó là những chỗ hoa sen mọc nước sẽ tự động được lọc trong. Điều này cũng nói lên ý nghĩa biểu trưng rằng nơi nào có chư Phật, Bồ tát ra đời thì nơi đó sẽ đem lại cho chúng sinh sự an ổn, trong sạch trong tâm linh.

Theo đó, Phật pháp cho rằng, nếu biết cách áp dụng trừng thanh vào trong cuộc sống thực tế hằng ngày thì tâm của chúng ta mới trong sạch, thanh lương được. Mà tâm trở nên trong sạch thì cũng sẽ giúp con người an lạc, hạnh phúc.

Như thông tin giới thiệu ở phần trên, hoa sen là loài thực vật thân thảo, nảy mầm từ củ sen nằm trong bùn đất, sau đó mọc dần lên đến trên mặt nước mới bắt đầu ra lá, nở hoa. Sự chờ đợi trong quá trình nảy mầm và phát triển này chính là tính kiên nhẫn, một trong những đức tính quan trọng của nhà Phật. Đức tính này cũng là một đức tính rất cần thiết trong cuộc sống.

Việc sở hữu được tính kiên nhẫn sẽ giúp người làm việc dễ dàng đạt được thành công, vươn tới đỉnh cao trong cuộc sống.

Viên dung có nghĩa vô tư vì đại cuộc. Vì người, vì toàn cuộc mà không vướng vào hình thức bề ngoài, không sa vào sự vụ, không lạc vào đạo lý tương sinh tương khắc, không chạy theo lợi ích cho một vài cá nhân mà suy sét tới lợi ích của tất cả. Do đó mà trí tuệ sáng suốt, quyết định công bằng, liên chính nhất, chí trung chí chính.

Hoa sen có những cánh hoa bao gọc gương sen tròn trịa, đại biểu cho tính viên giác mà mỗi người đều có. Đặc biệt từ lúc nở đến lúc tàn, hoa sen không hề bị các loại ong bướm đến hút mật hay làm hư hại, điều này nói nên tính viên dung vô ngại, không thể bị điều gì làm ô nhiễm được.

Ý nghĩa thanh lương của hoa sen trong Phật Giáo

Từ xưa đến nay chúng ta đều biết, mùa xuân là mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, nở ra những bông hoa tươi sáng khoe sắc với đời bởi đây là mùa thời tiết đẹp và trong lành nhất trong năm. Thế nhưng hoa sen thì khác hẳn, sen nở vào mùa Hạ, là mùa nóng bức nhất trong một năm. Trong hoàn cảnh này, hoa sen nở ra với hương thơm trong mát như mang lại thứ nước cam lộ từ bi để tưới tắm làm mát dịu cho mọi người.

Trong Phật pháp, điều này nói lên ý nghĩa chư vị Bồ tát ra đời trong thời đại chúng sinh đầy phiến não, khó chịu và đầy dục vọng nhưng vẫn bền tâm nhấn nại để khắc phục vượt qua, đồng thời dùng chánh pháp để làm mát dịu tâm hồn của những người xung quanh.

Hành trực là chỉ sự ngay thẳng, không có loài hoa nào có thân hình ngay thẳng như hoa sen. Trong đạo Phật, điều này thể hiện cho bài học “Người tu hành cần phải sửa thân và tâm cho ngay thẳng”, “trực tâm tức thị đạo tràng”. Dù sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, ở bất cứ đâu mà tâm ta ngay thẳng thì dù đó là nơi chợ búa ồn ào ta cũng có thể biến nơi đó thành đạo tràng thanh tịnh.

Ngẫu không – Ý nghĩa của hoa sen trong Phật Giáo

Ngẫu không là một đặc tính trên thân hoa sen gắn liền với hai điều trong tứ vô lượng là “hỷ, xả”. Hoa sen tuy thân ngay thẳng nhưng ruột thì trống rỗng thể hiện cho hai đức tính này. Thể hiện cho việc dù thấy nhiều, nghe nhiều nhưng không để ở trong lòng, vẫn an nhiên bước về phía trước.

Một đặc điểm duy nhất chỉ có ở hoa sen đó là hoa và quả xuất hiện cùng lúc, đó là nhân quả đồng thời, điều này nói đến một triết lý sống, nhân quả đồng thời, như hình với bóng, gieo nhân nào thì gặp quả nấy.

Một số hình ảnh hoa sen trong Phật Giáo

Hoa sen dát vàng thường được sử dụng làm bảo tọa

Hoặc là pháp bảo của bồ tát

Hoa sen đại diện cho sự thanh tịnh và nhiều tính tốt của Phật giáo

Hình ảnh Phật tôt ngồi thiền trên đài sen

Tranh hoa sen dát vàng dùng trong những sự kiện nào?

Qua 2 phần trên ta cũng có thể thấy được tầm quan trọng của hoa sen trong Phật giáo. Tuy nhiên tùy vào từng màu sắc khác nhau hoa sen lại có những ý nghĩa khác nhau. Cụ thể, loài hoa sen được dùng nhiều nhất trong Phật pháp là hoa sen trắng và hoa sen vàng, trong đó bảo tọa của phật tổ hoặc các pháp bảo nhà Phật sẽ thường là hoa sen vàng bởi vàng là màu của ánh sáng, màu của phật pháp vô biên.

Tranh hoa sen mạ vàng Gold Việt

Và tranh hoa sen dát vàng chính là hình ảnh của loài hoa sen ấy. Tranh hoa sen dát vàng, một trong những biểu tượng lớn của Phật giáo nên rất thích hợp dùng để tặng người thân, khách hàng, đối tác như một lời chúc về sự yên bình, cho người nhận tranh luôn gặp được nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Tranh hoa sen dát vàng có thể sử dụng làm quà tặng trong nhiều sự kiện

Một số sự kiện có thể sử dụng tranh hoa sen dát vàng làm quà tặng như:

Các ngày lễ, tết trong năm

Các sự kiện lớn như việc lên chức, sinh nhật,…

Quà công tác cho khách hàng ở thời gian mở đầu, kết thúc dự án

Cho những ai có mỗi quan tâm đến đạo Phật

Ý Nghĩa 5 Màu Trên Lá Cờ Phật Giáo

Năm màu sắc của lá cờ Phật giáo: Xanh dương, vàng, đỏ, trắng, cam là biểu trưng cho ánh sáng hào quang chư Phật; đồng thời ý nghĩa các màu sắc cũng tương ưng, nêu biểu gắn với Ngũ căn Ngũ lực.

> Người tu nên chọn pháp môn phù hợp với căn cơ của mình

Là những phương pháp tu học Phật quý báu có thể đưa người tu hành từ địa vị phàm phu đến các Thánh quả trong ba thừa.

Mỗi màu sắc có ý nghĩa, sự phân biệt khác nhau:

Màu trắng: tượng trưng Tín căn

Màu đỏ: tượng trưng cho Tinh tấn căn

Màu vàng: tượng trưng cho Niệm căn

Màu xanh dương: tượng trưng cho Định căn

Màu da cam: tượng trưng Huệ căn.

Năm màu sắc của lá cờ Phật giáo: Xanh dương, vàng, đỏ, trắng, cam là biểu trưng cho ánh sáng hào quang chư Phật; đồng thời ý nghĩa các màu sắc cũng tương ưng, nêu biểu gắn với Ngũ căn Ngũ lực.

Ngũ căn

Là năm căn. Căn đây tức là căn bản, là gốc rễ, là nguồn gốc để tất cả các thiện pháp xuất phát.

Luận Trí Độ, quyển thứ mười, giải rằng: “Năm căn này là căn bản để phát sinh tất cả thiện pháp, nên gọi là ngũ căn”. Năm căn ấy là: Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn, Huệ căn.

Chúng là sự phục sức trang nghiêm, là phương tiện công hiệu giúp người tu học thẳng tiến trên bước đường tu đạo, chứng quả.

1. Tín căn:

Là lòng tin mạnh mẽ vững chắc. Lòng tin này không giống như lòng tin mù quáng, vô điều kiện, bất chấp lý trí của phần nhiều ngoại đạo. Lòng tin ở đây là con đẻ của lý trí, là kết quả của sự suy luận sáng suốt, của sự quan sát kỹ càng. Đức Phật không bao giờ bắt buộc Phật tử tin một điều gì mà không suy luận được, không giải thích được.Vì lòng tin của người Phật tử khởi từ trí xét đoán. Bởi thế nên nó vô cùng vững chắc, mãnh liệt. Chính nó là căn bản phát sinh các hạnh lành, Phật dạy: “Tin là mẹ vô lượng của công đức”. Nhưng Phật tử tin cái gì? Phật tử tin Tam Bảo:

Tin Phật: Phật tử biết rằng đức Phật là đấng hoàn toàn giác ngộ, giải thoát. Vì thế, Phật tử suốt đời tin tưởng theo Phật, để hướng tiến đến sự giác ngộ, giải thoát mà Phật đã thân chứng.

Tin pháp: Pháp là chân lý, là sự thật mà đức Phật đã khám phá ra và truyền lại cho chúng ta. Hay nói một cách khác, pháp là giáo lý đúng như sự thật mà đức Phật đã thuyết minh. Chúng ta tin tưởng những giáo lý ấy, vì người nói ra là đức Phật, đã thân chứng được và giác ngộ được nhờ giáo lý ấy.

Tin Tăng: Tăng là người thực hành các giáo lý của Phật để giác ngộ mình và người, là kẻ thay Phật đưa cao ngọn đuốc chính pháp sáng ngời, để soi đường cho chúng sinh. Vì thế, Phật tử suốt đời quy hướng về Tăng.

Luận Trí Độ, quyển thứ mười, giải rằng: “Năm căn này là căn bản để phát sinh tất cả thiện pháp, nên gọi là ngũ căn”. Năm căn ấy là: Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn, Huệ căn.

2. Tấn căn:

Tấn là tinh tấn. Tấn căn là sự dũng mãnh tinh tấn trên bước đường tu tập không bao giờ thối lui. Nếu đã có lòng tin chắc chắn mà không tinh tấn thực hiện, làm theo những điều mình tin, thì lòng tin suông ấy trở thành vô dụng, không đưa chúng ta đến đâu cả.

Vậy cho nên người Phật tử đã tin Tam Bảo, thì phải luôn luôn tinh tấn thực hành giáo lý của Phật.

3. Niệm căn:

Niệm là ghi nhớ. Ghi nhớ những gì? Mục tiêu của niệm là nhớ nghĩ đến những phương pháp thực hành: Niệm thí (tu tập bổ thí); Niệm giới (việc trì tịnh giới đoạn trừ phiền não); Niệm thiên (nhờ nghĩ đến cách tu tập 4 thiền định, để thanh lọc hết các phiền não).

4. Định căn:

Định hay tịnh lự do dịch nghĩa chữ Phạn là Dhyana (Thiền na). Định là lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp, để suy đạt thật nghĩa của nó. Theo Luận Nhiếp Đại Thừa, định có thể chia làm ba bậc:

5. Huệ căn:

Huệ là trí huệ sáng suốt, thâm nhập được chân tướng của vạn pháp. Trí huệ ấy không có sự phân biệt, vì phân biệt là tác dụng của vọng thức, là mê lầm.

Nói một cách tổng quát giản dị, huệ căn là trí huệ do thiền định đã làm lặng sạch.

Ngũ căn và Ngũ lực vừa làm hai căn bản, vừa là nghị lực để phát sinh, tăng trưởng vô lượng công đức thù thắng.

Ngũ Lực

Ngũ lực tức là năm năng lực vĩ đại, năm thần lực của Ngũ căn. Nói một cách dễ hiểu: Ngũ căn như năm cánh tay, còn ngũ lực như là sức mạnh của năm cánh tay ấy.

1. Tín lực: tức là thần lực của đức tin, hay sức mạnh lớn lao, vi diệu do tín căn phát sinh.

2. Tấn lực: tức thần lực của đức tinh tấn, hay sức mạnh bất thối chuyển, kiên cố, có thể san bằng mọi trở lực, sức mạnh này do tấn căn phát sinh.

3. Niệm lực: tức là thần lực của sự ghi nhớ, hay sức mạnh lớn lao bền chắc của niệm căn.

4. Định lực: tức thần lực của sự tập trung tư tưởng hay sức mạnh vĩ đại của định căn.

5. Huệ lực: tức thần lực của trí huệ hay sức mạnh vô biên của huệ căn.

Nói một cách tổng quát, những sức mạnh này là kết quả thu đạt được do sự kiên cố tu luyện của Ngũ căn. Nó như là một ngọn lửa bật lên sau khi người ta đã nỗ lực cọ sát hai cây củi vào nhau để lấy lửa.

Huệ căn là trí huệ do thiền định đã làm lặng sạch.

Diệu Dụng Của Ngũ Căn Và Ngũ Lực

Như chúng ta đã thấy ở trên, Ngũ căn và Ngũ lực vừa làm hai căn bản, vừa là nghị lực để phát sinh, tăng trưởng vô lượng công đức thù thắng.

Bất luận người nào, hễ đã lấy trí làm nền tảng, tinh tấn thật hành chính pháp (tấn), hằng ghi nhớ chánh pháp để tiến tu (niệm), tập trung tư tưởng để trừ sạch vô minh phiền não, đem diệu huệ vô phân biệt (huệ) để chứng chân như, thì người ấy thế nào cũng nắm chắc trong tay quả vị vô thượng Bồ đề. Vì sao? Vì người ấy đã có những thần lực vĩ đại (Ngũ lực) do Ngũ căn gây tạo. Với ngũ lực này, hành giả như người bộ hành có đủ phương tiện linh lợi, diệu dụng để băng rừng, vượt biển và đi đến đích cuối cùng. Đích cuối cùng của người tu hành theo chính pháp tức là thành Phật. Đến đích này, người ấy là ánh sáng của chúng sinh gieo mầm an lạc. Chính người mới có đủ thần lực, diệu dụng làm cho chúng sinh trở thành những kẻ hoàn toàn giải thoát, hoàn toàn giác ngộ.

Minh Chính (TH)

Ý Nghĩa Chuỗi Hạt Trong Phật Giáo

Tràng hạt khởi nguồn từ Ấn Độ và đã trở thành một vật quan trọng trong đời sống tín ngưỡng, văn hóa của tín đồ các tôn giáo và trong xã hội Ấn Độ cổ. Với Phật giáo, tràng hạt là vật tùy thân giúp cho hành giả dễ dàng chú tâm vào đối tượng trì niệm, là một sợi dây xâu suốt các ý tưởng thành một trật tự, từ đó hành giả có thể đi sâu hơn vào các trạng thái của định để làm phát khởi tuệ giác.

Cũng như chuông, mõ, tràng hạt là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện tu tập của Phật giáo. Trong Phật giáo, mọi hình thức pháp khí hay vật thể đều là những phương tiện. Tuy nhiên, không phải vô cớ mà người ta bày ra. Dĩ nhiên, mỗi một hình thức của một vật thể đều có một ý nghĩa biểu trưng đặc biệt của nó. Nguồn gốc của tràng hạt

Không chỉ Phật giáo mới đề cập đến chuỗi hạt và hướng dẫn việc sử dụng chuỗi hạt để đạt được những giá trị trên con đường tu tập. Người ta có thể thấy, pháp môn lần tràng hạt niệm Phật của Phật giáo rất gần gũi với phương pháp lần tràng hạt trong lúc cầu nguyện của Bà la môn giáo, một lối cầu nguyện rất thịnh hành của những vị Bà la môn. Bên cạnh đó, người Ấn giáo theo phái thờ thần Siva cũng dùng một loại hạt gọi là rudrāka để xâu thành tràng hạt. Truyền thuyết kể rằng, có lần vị thần này ngắm nhìn thế gian, thấy chúng sinh sống trong nỗi khổ cực không sao nói hết nên đã đau lòng nhỏ xuống những giọt nước mắt, những giọt nước mắt này mọc thành cây rồi cho ra những hạt đỏ thẫm. Người ta đã lấy những hạt ấy làm thành tràng hạt để cầu nguyện trong sự tưởng nhớ đến tấm lòng từ bi của thần Siva. Hạt đó chính là hạt kim cương mà ngày nay chúng ta vẫn dùng để làm tràng hạt. Trong quan niệm của người Ấn Độ, vô hoạn tử và rudrāka đều là những loại hạt thiêng, có khả năng trừ ma chướng. Điều này có lẽ một phần do dược tính của chúng, như vô hoạn tử, còn có tên là bồ đề tử, là một vị thuốc chủ trị nhiệt, đàm, sát trùng…

Tuy nhiên, trong Kinh điển Phật Giáo, cái khởi nguyên của tràng hạt và lần chuỗi hạt khi niệm Phật, hầu hết đều căn cứ vào sự khai thị của Đức Phật đối với Vua Ba Lưu Ly đã được ghi chép lại trong Kinh Mộc Hoạn Tử. Kinh Mộc Hoạn Tử, chép rằng: Một thời Đức Phật cùng giáo đoàn của ngài du hóa trong núi Kỳ Xà Quật (Grdhrakùta), nước La Duệ Kỳ (Ràjagrha) quốc vương trong thời nạn ấy tên là Ba Lưu Ly, sai sứ giả đến chốn Phật để xin Thế Tôn đặc biệt rủ lòng thương xót, cho pháp yếu để có thể tu hành được dễ dàng và trong đời mai sau xa lìa được mọi khổ não. Đức Phật bảo sứ giả về thưa với nhà vua rằng: nếu nhà vua muốn diệt được phiền não chướng, báo chướng nên xâu một chuỗi tràng 108 hạt bằng hạt cây tra (mộc hoạn tử) và thường đem theo mình; khi đi, khi ngồi, khi nằm thường nên chí tâm, không phân tán ý, xưng danh hiệu: Phật, Pháp, Tăng mỗi lần, lần qua một hạt cây tra. Cứ như thế, lần lượt qua hạt này đến hạt khác, như: mười hạt, hai mươi hạt, trăm hạt, nghìn hạt, cho đến trăm nghìn vạn hạt.

Nếu lần được đủ hai mươi vạn lượt, mà thân tâm không tán loạn, không có những siểm khúc, thời khi xả thân này được sinh lên cõi Diệm Thiên thứ ba. Lên đấy, y, thực tự nhiên, thường an lạc hạnh. Nếu lại lần đủ được một trăm vạn lượt, sẽ dứt hẳn được một trăm tám kết nghiệp, mới gọi là vị chứng được quả Tu-Đà-Hoàn (ngược dòng sinh tử), hướng đến đạo Niết bàn, dứt hẳn cội gốc phiền não và chức được quả vô thượng. Tràng hạt trong Phật giáo ra đời từ đấy. Các tăng sỹ thường mang theo bên mình tràng hạt như là một bảo bối, một pháp khí quan trọng để hỗ trợ họ trên con đường tu học Phật pháp.

Như vậy, có thể thấy, dù trong truyền thống văn hóa cổ xưa của Ấn Độ và trong các nền văn minh khác của nhân loại, chuỗi hạt đã có từ lâu và gắn với mỗi cộng đồng xã hội nó có một ý nghĩa biểu trưng hay giá trị thẩm mỹ khác nhau. Nhưng với Phật giáo, tràng hạt được đề cập với vai trò của pháp phương tiện, là pháp khí, là công cụ để hỗ trợ việc tu hành đạt giác ngộ. Số lượng của chuỗi hạt

Theo Kinh Mộc Hoạn Tử nêu ở trên, tràng hạt của Phật giáo gồm có 108 hạt, con số này cũng giống với các giáo phái khác ở Ấn Độ. Tuy nhiên, về sau, để tiện lợi cho các nghi thức hành lễ, tràng hạt được xâu bởi chuỗi hạt với những số lượng ít hơn, như 54, 27 hạt hoặc 36, 18 hạt. Con số 108 này tượng trưng cho 108 phiền não gồm 88 kiến hoặc, 10 tư hoặc và 10 triền. Ngoài ra, con số 108 còn được giải thích theo nhiều cách khác nữa. Người ta nhận thấy rằng số hạt thường là tương đương với số lượng của đối tượng được niệm, trong niệm danh hiệu Phật thì có 108 danh hiệu, trong Ấn giáo thì có 108 bộ Áo nghĩa thư. 108 = 6x3x2x3, đó là 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp) x 3 thời (quá khứ, hiện tại và vị lại) x 2 trạng thái của tâm (nhiễm và tịnh) x 3 trạng thái của thọ (ưa, không ưa và trung lập).

Theo Kinh Giảo Lượng Sổ Châu Công Đức, và theo Kinh Kim Cang Đảnh Du Già Niệm Châu có sự ghi chép bất đồng, tràng hạt có các loại như sau: – Căn cứ Kinh Mộc Hoạn Tử dạy làm chuỗi 108 hạt. – Kinh Đà Ra Ni Tập quyển 2 phẩm Tác Châu Pháp Tướng, thì nêu ra có 4 loại chuỗi: 108 hạt, 54 hạt, 42 hạt, 21 hạt. – Kinh Sổ Châu Công Đức, cũng nêu ra 4 loại chuỗi, tức là loại 108 hạt, loại 54 hạt, loại 27 hạt, và loại 14 hạt. – Kinh Kim Cang Đảnh Du Già Niệm Châu thì lấy 1.080 hạt làm chuỗi bậc thượng, xâu 108 hạt làm chuỗi tối thắng, xâu 54 hạt làm chuỗi bậc trung, xâu 27 hạt làm chuỗi bậc hạ. – Phẩm Sổ Châu Nghi Tắc trong Kinh Văn Thù Nghi Quỹ bảo rằng: Chuỗi bậc thượng là 108 hạt, chuỗi bậc trung là 54 hạt, chuỗi bậc hạ là 27 hạt, chuỗi tối thượng là 1.080 hạt. Trong những tràng hạt với số lượng hạt như trên thì xâu chuỗi 108 hạt là phổ biến hơn hết.

Trong tràng hạt có một hạt gọi là hạt Sumeru hay Meru, chúng ta thường gọi là hạt Tu di hoặc hạt Di đà, đó là hạt thứ 109, là chỗ giáp nối của vòng tròn. Theo nghi thức, khi lần tràng, không được vượt qua hạt này, lần đến hạt này thì lần ngược trở lại, như trong kinh Kim cương đỉnh du già niệm châu có câu: “Hạt giữa tiêu biểu Phật Di đà, chớ lần qua, phạm tội việt pháp”. Tuy nhiên, trong việc xâu chuỗi hạt, tùy cách xâu mà có thể có hoặc không có hạt thứ 109 này.

Ý nghĩa của tràng hạt

Căn cứ vào những pháp số tổng thành mà nó biểu trưng theo quan niệm của phật giáo, việc sử dụng tràng hạt có số hạt khác nhau, thì ý nghĩa biểu trưng của nó cũng có những khác biệt: – Chuỗi 108 hạt là biểu thị cho cầu chứng 108 pháp Tam Muội mà đoạn trừ 108 phiền não. – Chuỗi 54 hạt là biểu thị cho 54 cấp vị quá trình tu hành của Bồ Tát, tức là Thập Tín, Thập Trú, Thập Hạnh. Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Tứ Thiện Căn Nhân Địa.

– Chuỗi 42 hạt là biểu thị cho 42 cấp vị quá trình tu hành của Bồ Tát, tức là Thập Trú, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Đẳng Giác, Diệu Giác.

– Chuỗi 27 hạt là biểu thị cho 27 cấp vị của Tiểu Thừa tu hành Tứ Hướng Quả, tức là 18 bậc Hữu Học của Tứ Hướng Tam Quả trước, với 9 bậc Vô Học của Đệ Tứ Quả A La Hán.

– Chuỗi 21 hạt là biểu thị cho 21 vị, tức là Thập Địa, Thập Ba La Mật và quả vị Phật.

– Chuỗi 14 hạt là biểu thị cho 14 Pháp Vô Úy của Bồ Tát Quán Thế Âm.

– Chuỗi 1.080 hạt là biểu thị cho 10 cảnh giới, mỗi cảnh giới đều có 108, cho nên cộng thành 1.080.

Ý nghĩa của chuỗi 36 hạt và 18 hạt có nhiều người cho là không biểu trưng cho pháp số nào trong Phật giáo, và cho rằng nó tương đồng với chuỗi 108 hạt. Theo đó, để tiện cho sự mang đeo, bèn chia chuỗi 108 hạt ra thành 3 chuỗi, mỗi chuỗi có 36 hạt, hoặc chia chuỗi 108 hạt ra làm 6 xâu, mỗi xâu có 18 hạt, mà không phải có thâm nghĩa nào cả.

Tràng hạt là một vật dụng phổ biến trong nhiều nền văn hóa trên thế giới. Nó được dùng như một thứ trang sức hoặc như một pháp khí tùy theo đối tượng sử dụng. Trong tôn giáo, tràng hạt được dùng để liên kết và thiết lập trật tự cho các lời cầu nguyện, các bài kinh, các kệ tán, các danh hiệu hoặc những thần chú trong khi hành trì.

Với Phật giáo, tràng hạt là một pháp khí quen thuộc, việc sử dụng tràng hạt dường như đã trở thành nét đặc thù của Tịnh độ tông. Theo lịch sử truyền thừa của Tịnh độ tông, người chế ra tràng hạt để niệm danh hiệu Phật chính là ngài Đạo Xước (562-645), người được tôn là tổ thứ 2 của Tịnh độ tông Trung Quốc. Còn với Phật giáo Nam tông, từ lâu tràng hạt cũng đã dần dần trở thành một vật tùy thân ngoài 8 vật (3 y, kim chỉ, bình bát, dây lưng, dao cạo và túi lọc nước) đã được Phật chế định.

Không phải ai niệm Phật cũng lần tràng hạt. Điều này, còn tùy theo căn tính và thói quen của mỗi người. Tuy nhiên, đối với những tín đồ, Phật tử tu theo Tịnh Độ tông, thì nên lần chuỗi để tiện bề đếm số đúng như lời mình đã phát nguyện. Bởi vì đối với những người sơ cơ, nhiều nghiệp chướng, tâm chưa thuần nhất, còn đầy vọng tưởng tạp loạn, thì việc dùng tràng hạt khi niệm Phật để dễ định tâm hơn. Hơn nữa, người tu tịnh nghiệp, thì tam nghiệp (thân, khẩu, ý) cần phải giữ thanh tịnh. Tay lần chuỗi thuộc về thân nghiệp, miệng niệm Phật thuộc về khẩu nghiệp, ý chuyên chú vào câu hiệu Phật không rời ra, thuộc về ý nghiệp. Kinh Phật dậy: “Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương”, nghĩa là ba nghiệp đều thanh tịnh thì cùng Phật vãng sinh về Tây phương cực lạc. Như vậy, tay lần chuỗi cũng là mục đích để ghi nhớ mỗi một hạt chuỗi là niệm một câu hiệu Phật, đồng thời cũng là cách ghi nhớ số, để không nhầm lẫn vậy.

Công dụng của chuỗi hạt chỉ là một phương tiện như muôn ngàn phương tiện khác. Người ta dùng nó để niệm Phật. Nhờ lần chuỗi ghi số câu mà tâm ít tán loạn hơn. Tuy nhiên, điểm căn bản để diệt trừ phiền não, chính là ở nơi cái tâm. Người niệm Phật, tay lần chuỗi mà tâm lăng xăng, tán loạn, luôn nghĩ tà vạy, thì dù miệng có niệm Phật, tay lần tràng hạt, cũng không thể nào có kết quả định tâm được./.

Yên Sơn (Theo btgcp)

Hoa Sen Có Ý Nghĩa Gì Trong Phật Giáo

Ng. T. P. A, đường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Hoa sen (tên khoa học là Nelumbo Nucifera) là loại hoa mọc lên từ rễ củ nằm dưới lớp bùn đất ở dưới nước, hoa thường có màu trắng, hồng, có khi phơn phớt vàng, xanh, tím… Hoa nở vươn khỏi mặt nước, lộ bày đài hoa, nhụy và hạt. Hoa đẹp, hương thơm, tinh khiết, nên được mọi người ưa chuộng. Ấn Độ giáo có truyền thuyết cho rằng lúc khởi đầu vũ trụ, một bông hoa sen mọc lên từ rốn của thần Vishnu, giữa hoa có Phạm thiên ngồi kiết già. Hoa sen lại là một trong tám biểu tượng của Phật giáo, khó có thể kể hết kinh sách Phật giáo nói về hoa sen, sau đâ y chỉ là phần kh ái lược.

Truyền thuyết kể rằng khi Đức Thích Ca đản sinh, ngài đi bảy bước và có bảy hoa sen đỡ bàn chân ngài. Chư Phật, Bồ-tát thường được miêu tả ngồi hay đứng trên đài sen, tay cầm hoa sen. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa lấy hoa sen làm đề kinh. Các tu viện, chùa c hiền, hội đoàn Phật giáo thường trang trí hoặc lấy hoa sen làm biểu tượng. Sở dĩ như thế vì hoa sen đẹp, tinh khiết, có hương thơm, không nhiễm bùn, bên trong hoa có đài, có hạt… Hoa được ví như c ái tâm thanh tịnh, không ô nhiễm, đức hạnh, kết quả viên mãn. Hoa sen còn được ví với quá trình tu tập, phát triển tâm thức: cây sen mọc dưới bùn được ví cho c ái tâm bị che lấp vì phiền não sinh tử; cây vươn lên trong nước, được ví cho quá trình tu tập, thanh tịnh hóa; hoa nở bên trên mặt nước, phô sắc hương dưới ánh mặt trời, được ví cho c ái tâm đã giác ngộ viên mãn.

Tông Thiên Thai giải thích về Tích môn (giáo lý phương tiện) và Bổn môn (giáo lý chân thật) của Kinh Pháp Hoa có đưa ra ba ẩn dụ về hoa sen, qua đó, hạt sen được ví với sự chân thật, hoa sen được ví với sự quyền biến; do hạt mà có hoa, hoa nở thì hạt bày ra, hoa rụng thì hạt hình thành. Tức là, do có chân thật nên có quyền biến (tạm dùng cho phù hợp với đời), quyền biến được khai mở thì chân thật lộ ra, quyền biến mất đi thì chân thật hình thành viên mãn.

Kinh Trừ C ái Chướng Bồ-tát Sở V ấn nêu lên 10 ẩn dụ về hoa sen để chỉ 10 thiện pháp tu hành của Bồ-tát. Đó là:

1/ Lìa tất cả ô nhiễm (như hoa sen không nhiễm bùn).

2/ Không cùng chung với c ái xấu ác (như hoa sen không dính nước bùn).

3/ Giữ đủ giới luật (như hương sen tỏa khắp, xua tan mùi ô uế).

4/ Bản thể thanh tịnh (như hoa sen tinh khiết).

5/ Vẻ mặt an vui hòa dịu (như hình ảnh hoa sen nở).

6/ Nhu nhuyến, không thô tháp (như hình ảnh hoa sen).

7/ Làm an lòng người (như hình ảnh, mùi thơm của hoa sen).

8/ Tu hành viên mãn, phước trí tròn đầy (như hoa sen nở rộ, bày hương sen, hạ t sen).

9/ Thành thục, thanh tịnh, sáng ngời trí tuệ (như hình ảnh mùi thơm của hoa sen) và

10/ Mới sinh ra đã có người tưởng đến, hoan hỷ (như hoa sen mới nhú, ai cũng chờ đợi hoa nở).

Kinh Phạm Võng miêu tả thế giới Liên hoa tạng như một đóa sen bao gồm toàn bộ thế giới trong đó có Đức Phật Tỳ-lô-xá-na ngồi kiết già và từ đó hóa hiện ra vô số chư Phật, Bồ-tát… Tông Tịnh độ quan niệm rằng thế giới Cực lạc là Liên hoa tạng của Đức Phật A-di-đà. Phật giáo Mật tông xếp bộ Hoa sen vào một trong ba bộ Thai tạng giới, tượng trưng cho tâm Bồ-đề thanh tịnh vốn có, không bị ô nhiễm sinh tử của chúng sinh, là tam-muội Đại bi của Đức Như Lai. Mật tông cũng có các thủ ấn hoa sen với hai bàn tay chắp lại, các ngón tay co duỗi khác nhau tạo thành các ấn Kim cương ngũ cổ, Nhị trùng ngũ cổ, Cử u phong…

Phật giáo còn phân biệt bốn màu hoa sen với các ý nghĩa như sau:

1/ Sen trắng (P hạn: Pundarika – Tạng: Pad ma dkar po) tượng trưng trí tuệ tu yệt đối;

2/ Sen hồng (Padme – Pad me dmar po) tượng trưng Đức Phật lịch sử và sự tôn quý tối thượng, chư Phật, Bồ-tát…

3/ Sen đỏ (Padma – Pad ma chu skyes) tượng trưng cho tâm tính vốn thanh tịnh, từ bi, thường chỉ Đức Quán Thế Âm và

4/ Sen xanh (Utpata – Ut pa la) tượng trưng cho trí tuệ tối thắng, Bát-nhã Ba-la-mật, thường chỉ Ngài Văn-thù.

Chúng ta nên quán tưởng hoa sen để tưởng nhớ chư Phật, Bồ-tát… để nhắc nhở tâm mình vốn tinh khiết như hoa sen, để thấy hoa sen đẹp đẽ thế kia nhưng rồi cũng héo úa, thân ta cũng vậy, đó là lý vô thường. Ta còn quán tưởng hoa sen để thấy rằng hoa sen cống hiến hương sắc cho đời, không ô nhiễm trước mọi sự; từ đó, ta phát triển lòng từ, không mong được đáp trả, thanh tịnh, an vui, vượt khỏi các phiền não như thị phi, đam mê, nóng giận, âu lo…

http://tapchivanhoaphatgiao.c om