Ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài

--- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài Ctxh Hỗ Trợ Tâm Lý Cho Trẻ Em Mồ Coi
  • Ý Nghĩa Xét Nghiệm Hba1C Đối Với Bệnh Nhân Đái Tháo Đường
  • Học Bằng C Bao Nhiêu Tiền Là Giá Học Lái Xe Hạng C Trọn Gói?
  • 1 Inch Bằng Bao Nhiêu Cm, Mm, M? Cách Quy Đổi Chính Xác Nhất
  • 1 Mẫu Bằng Bao Nhiều Sào ? Bao Nhiêu M2 ? Đối Với Bắc, Trung, Nam
  • Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn ý Nghĩa Phương Pháp Luận Vận Dụng Ppl Trong Công Tác, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Là Gì, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Về Vật Chất, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài Ctxh Hỗ Trợ Tâm Lý Cho Trẻ Em Mồ Coi, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Thực Tiễn, ý Nghĩa Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, ý Nghĩa Lý Luân Và Thực Tiễn Của Đề Tài Công Tác Văn Phong, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Cương Lĩnh, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Thực Tiễn Mà Không Có Lý Luận Là Thực Tiễn Mù Quáng, Lý Luận Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Thực Tiễn Không Có Lý Luận Là Thực Tiễn Mù Quáng, ý Nghĩa Thực Tiễn Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Luật Nghĩa Vụ Và Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ-bản án Và Bình Luận Bản án, Tiền Đề Lý Luận Ra Đời Của Chủ Nghĩa Mác, Lý Luận Của Chủ Nghĩa Mác Về Tiền Tệ, Tiền Đề Lý Luận Ra Đời Chủ Nghĩa Mác, Định Nghĩa Nào Về Thực Tiễn, Định Nghĩa Nào Về Thực Tiễn Sau Đây Là Đầy Đủ Và Chính Xác Nhất, ý Nghĩa Thực Tiễn Quân Đội Trong Tình Hình Hiện Nay, Tiểu Luận Nguyên Tắc Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Tiểu Luận Sự Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Là Câu Nói Của Ai, Lý Luận Và Thực Tiễn Là Gì, Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Thực Tiễn, Lý Luận Đi Đôi Với Thực Tiễn, Lý Luận Thực Tiễn Là Gì, Lý Luận Gắn Với Thực Tiễn, Lý Luận Là Gì Thực Tiễn Là Gì, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn Qua 30 Năm Đổi Mới, Lý Luận Và Thực Tiễn Công Tác Lưu Trữ, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Dạy Học, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn Htv9, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận Thực Tiễn Sau 30 Năm Đổi Mới, Lý Luận Phải Đi Đôi Với Thực Tiễn, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn Htv4, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 20 Năm Đổi Mới, Lý Luận Gắn Liền Với Thực Tiễn, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 30 Năm Đổi Mới, Chỉ Thị Của Ban Bí Thư Về Tổng Kết Một Số Chuyên Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 20 Đổi Mới, Thủ Tục Hành Chính Lý Luận Và Thực Tiễn, Báo Cáo Tiến Độ Thực Hiện Luận Văn Thạc Sĩ, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Giáo Dục, Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Mối Liên Hệ Giwuax Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Triết Học, Dự Thảo Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 30 Năm Đổi Mới, Báo Cáo Tiến Độ Thực Hiện Luận Văn Của Học Viên, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Công Việc, Luận án Tiến Sĩ Công Nghệ Thực Phẩm, Diễn Biến Hòa Bình Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Thực Tiễn Và Sự Vận Dụng Quan Điểm Đó Vào Quá Trình Đổi Mới ở Việt Nam, Quy Trình Ban Hành Luật, Pháp Lệnh Lý Luận Và Thực Tiễn, Hãy Phân Tích Thực Tiễn Và Vai Trò Của Thực Tiễn Đối Với Nhận Thức, Trên Cơ Sở Lý Luận Thực Tiễn Về Phát Huy Dân Chủ, Giữ Nghiêm Kỷ Luật, Phấn Đấu Xứng Danh Bộ Đội Cụ H, Trên Cơ Sở Lý Luận Thực Tiễn Về Phát Huy Dân Chủ, Giữ Nghiêm Kỷ Luật, Phấn Đấu Xứng Danh Bộ Đội Cụ H, Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Sự Vận Dụng Nguyên Tắc Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đcsvn Trong Thời Kì Đổi Mới., ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Phương Thức Sản Xuất, Báo Cáo Tham Luận Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến Ngành Giáo Dục, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Bài Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến Công An Nhân Dân, Bài Tham Luận Gương Điển Hình Tiên Tiến Trong Công An Nhân Dân, Lý Luận Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Và ý Nghĩa Trong Việc Hình Thành Cộng Đồng Asean, Bài Tham Luận Gương Điển Hình Tiên Tiến, Bài Tham Luận Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Bài Tham Luận Về Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Báo Cáo Tham Luận Tại Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Báo Cáo Tham Luận Cá Nhân Điển Hình Tiên Tiến, Báo Cáo Tham Luận Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Báo Cáo Tham Luận Gương Điển Hình Tiên Tiến, Báo Cáo Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến Cá Nhân, Bài Tham Luận Tại Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Bài Tham Luận Về Gương Điển Hình Tiên Tiến, Mẫu Tham Luận Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Tham Luận Tại Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Tham Luận Gương Điển Hình Tiên Tiến, Bài Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến Cá Nhân, Bài Tham Luận Báo Cáo Điển Hình Tiên Tiến, Báo Cáo Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến 5 Năm, Bài Tham Luận Về Điển Hình Tiên Tiến, Báo Cáo Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến Tập Thể, Mẫu Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc, Báo Cáo Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến, Luật Nghĩa Vụ Dân Sự Và Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ Dân Sự, Tiểu Luận Về Các Kỹ Năng Lãnh Đạo Cần Thiết Của Cấp Phòng Và Thực Tiễn Lãnh Đạo Cấp Phòng ở Cơ Quan, Định Nghĩa Về Tiền, Định Nghĩa Tiền, ý Nghĩa Báo Cáo Lưu Chuyển Tiền Tệ, Định Nghĩa Rửa Tiền, ý Nghĩa Học Thuyết Tiến Hóa, Định Nghĩa ưu Tiên, 8 Định Nghĩa Về Tiền, ý Nghĩa Văn Bản Bài Học Đường Đời Đầu Tiên, Định Nghĩa Tiên Đề ơclit,

    Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn ý Nghĩa Phương Pháp Luận Vận Dụng Ppl Trong Công Tác, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Là Gì, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Về Vật Chất, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài Ctxh Hỗ Trợ Tâm Lý Cho Trẻ Em Mồ Coi, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Thực Tiễn, ý Nghĩa Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, ý Nghĩa Lý Luân Và Thực Tiễn Của Đề Tài Công Tác Văn Phong, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Cương Lĩnh, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Thực Tiễn Mà Không Có Lý Luận Là Thực Tiễn Mù Quáng, Lý Luận Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Thực Tiễn Không Có Lý Luận Là Thực Tiễn Mù Quáng, ý Nghĩa Thực Tiễn Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Luật Nghĩa Vụ Và Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ-bản án Và Bình Luận Bản án, Tiền Đề Lý Luận Ra Đời Của Chủ Nghĩa Mác, Lý Luận Của Chủ Nghĩa Mác Về Tiền Tệ, Tiền Đề Lý Luận Ra Đời Chủ Nghĩa Mác, Định Nghĩa Nào Về Thực Tiễn, Định Nghĩa Nào Về Thực Tiễn Sau Đây Là Đầy Đủ Và Chính Xác Nhất, ý Nghĩa Thực Tiễn Quân Đội Trong Tình Hình Hiện Nay, Tiểu Luận Nguyên Tắc Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Tiểu Luận Sự Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Là Câu Nói Của Ai, Lý Luận Và Thực Tiễn Là Gì, Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Thực Tiễn, Lý Luận Đi Đôi Với Thực Tiễn, Lý Luận Thực Tiễn Là Gì, Lý Luận Gắn Với Thực Tiễn, Lý Luận Là Gì Thực Tiễn Là Gì, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn Qua 30 Năm Đổi Mới, Lý Luận Và Thực Tiễn Công Tác Lưu Trữ, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Dạy Học, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn Htv9, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận Thực Tiễn Sau 30 Năm Đổi Mới, Lý Luận Phải Đi Đôi Với Thực Tiễn, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn Htv4, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 20 Năm Đổi Mới, Lý Luận Gắn Liền Với Thực Tiễn, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 30 Năm Đổi Mới, Chỉ Thị Của Ban Bí Thư Về Tổng Kết Một Số Chuyên Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 20 Đổi Mới, Thủ Tục Hành Chính Lý Luận Và Thực Tiễn, Báo Cáo Tiến Độ Thực Hiện Luận Văn Thạc Sĩ, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Giáo Dục, Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Mối Liên Hệ Giwuax Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Triết Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ăn Uống Khoa Học Để Khỏe Mạnh: Tại Sao Không?
  • Bạn Đã Thực Sự Hiểu Ý Nghĩa Của Việc Ăn Uống Có Khoa Học?
  • Fsf: Các Tạp Chí Của Fantasy Và Khoa Học Viễn Tưởng
  • Chủ Nghĩa Mác Ra Đời, Phát Triển Trên Cơ Sở Những Điều Kiện, Tiền Dề Cơ Bản Nào? Hãy Nêu Khái Quát Các Điều Kiện, Tiền Đề Đó?
  • Điều Kiện, Tiền Đề Của Sự Ra Đời Chủ Nghĩa Mác?
  • Lý Luận Và Thực Tiễn. Triết Học Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung, Ý Nghĩa Phương Pháp Luật Của Định Nghĩa Vật Chất
  • Định Nghĩa Vật Chất Của Ln. Ý Nghĩa Khoa Học
  • Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư Của Marx Và Sự Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Học Thuyết Giá Trị Thăng Dư Của Chủ Nghĩa Mác
  • Ý Nghĩa Lịch Sử Của Ngày Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam Và Hoạt Động Chào Mừng Ngày 18/5/2018
  • 1. Lý luận

    Khái niệm, từ ngữ lý luận thường được hiểu với nhiều nội dung và ý nghĩa khác nhau. Người ta thường hiểu lý luận là những học thuyết, quan điểm với tư cách là cái kết quả mà quá trình nhận thức đạt được. Chẳng hạn, những hệ thống lý thuyết, quan niệm được trình bày trong các tài liệu, báo cáo khoa học, sách giáo khoa v.v. Nhưng lý luận còn được hiểu là một quá trình nhận thức. Trong trường hợp này, lý luận có nghĩa là hoạt động lý luận và hoạt động ấy bao gồm cả những quả trình nội tại và những điều kiện bên ngoài của hoạt động. Tuỳ theo những yêu cầu cụ thể mà người ta nêu lên, hoặc quan tâm đến mặt này hay mặt khác của lý luận. Ở đây chúng ta nói về lý luận với tư cách là hoạt động nhận thức lý luận (hoạt động lý luận).

    Theo Lênin: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất’ yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì nó”. Luận điểm đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của lý luận cả về quá trình và kết quả của nó. Lý luận phải hướng đến, nắm được cái bên trong, tất yếu, nhũng quan hệ toàn diện và mâu thuẫn của khách thể, đồng thời phải “trình bày”, thể hiện được những cái đã nắm được ấy dưới hình thức những quan điếm hoặc hệ thống lý luận. Từ luận điểm của Lênin, cũng như từ việc xem xét những hình thức quan niệm, hoạt động lý luận khác nhau, có thể xác định bản chất (định nghĩa) lý luận như sau: Lý luận là nhận thức cái bên trong, tất yếu của đối tượng và biểu hiện nhận thức ấy dưới hình thức các khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Từ bản chất của lý luận và từ việc xem xét những hình thức, biểu hiện khác nhau của hoạt động lý luận, có thể chỉ ra và phân tích nhũng đặc trưng và tính chất của nó như sau.

    Về nội dung phản ánh: Lý luận phản ánh cái bên trong, cái tất yếu của đối tượng. Cái bên trong, tất yếu này có thể là cái chung, cái bản chất, cái căn bản, cái quy luật của đối tượng, lý luận có thể phản ánh cái bên trong, cái tất yếu của sự vật trong tính chỉnh thể, toàn vẹn của nó, nhưng cũng có thể chỉ phản ánh cái bên trong, tất yếu của từng mặt nào đó của đối tượng.

    Về hình thức phản ánh: Lý luận biểu hiện, “trình bày” đối tượng trong hình thức những khái niệm, phạm trù, quy luật hoặc hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Lý luận có tính chất trừu tượng hoá, khái quát hoá, tổng họp và những tính chât này hình thành trên cơ sở của phân tích, so sánh. Tính chất này thể hiện không chỉ trong quá trình hoạt động, mà cả trong kết quả của hoạt động lý luận và nó thể hiện rõ ở việc chủ thể sử dụng những công cụ là các phạm trù, khái niệm, quy luật trong hoạt động nhận thức.

    Do những tính chất trên mà hoạt động lý luận có một tính chất nổi bật khác là tính gián tiếp đối với đối tượng nhận thức.

    Xét về mặt tâm lý, có thể thấy chủ thể lý luận là người hoạt động tự giác và tích cực, chủ động nắm bắt đổi tượng. Vì thế, lý luận biểu hiện rõ tính chủ thể của con người.

    Ngôn ngữ lý luận mang tính chung.

    Lý luận còn mang tính khuynh hướng. Có lý luận tiên tiến, cách mạng, có lý luận bảo thủ, phản cách mạng, có lý luận giáo điều, chiết trung, nguỵ biện, duy lý, phi duy lý, duy khoa học, có lý luận khoa học và không khoa học, phản khoa học v.v. Tuy nhiên, tính khuynh hướng của lý luận không phải là quá trình tự thân của lý luận, mà do thực tiễn quy định.

    Cấp độ 1. Cấp độ này là lý luận, lý thuyết, quan điểm của các lĩnh vực nhận thức cụ thể, như kinh tế học, luật học, xã hội học, lịch sử, nghệ thuật học hoặc các lĩnh vực nhận thức của khoa học tự nhiên. Trong mỗi lĩnh vực ấy lại có thể phân chia thành các cấp độ khác nhau nữa, như kinh tế học đại cương và các lý luận kinh tế ngành, sinh học đại cương và các lý luận thuộc các ngành sinh học cụ thể.v.v.

    Cấp độ 2. Đây là cấp độ cao hơn, nó là những hệ thống quan điểm triết học, chính trị, xã hội dùng để định hướng, tổ chức hoạt động của các tầng lớp, giai cấp, các tập đoàn, thậm chí cho cả một chế độ, một cộng đồng xã hội. Trong cấp độ này, cũng có sự phân chia, chang hạn cấp độ lý luận triết học và lý luận chính trị, xã hội v.v. Theo Hêghen, “phép biện chứng là sự vận động của lý tính cao cấp”. Ý kiến của ông cho thấy lý luận triết học là một thành tố của lý luận ở cấp độ hai và trong cấp độ ấy triết học còn thể hiện như một yếu tố cao hơn cả.

    Sự phân chia những cấp độ khác nhau của lý luận, một mặt căn cứ vào phạm vi đối tượng, những lĩnh vực đối tượng mà lý luận quan tâm, phản ánh, mặt khác căn cứ vào mức độ, trình độ trừu tượng, khái quát và tổng hợp của tư duy (khả năng, năng lực nhận thức) của mỗi lĩnh vực nhận thức, đồng thời căn cứ vào vai trò, tác dụng của mỗi lĩnh vực nhận thức lý luận đối với nhận thức và thực tiễn.

    Những hình thức lý luận. Có thể nói, có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động lý luận thì có bẩy nhiêu các hình thức lý luận. Thí dụ, trong triết học có triết học chung và các triết học cụ thể, trong sinh vật học có “Sinh học đại cương và các lĩnh vực cụ thể của sinh học v.v.

    Hoạt động lý luận là một hệ thống bao gồm những yếu tố và điều kiện cấu thành cơ bản: (1) chủ thể (người hoạt động lý luận) ↔ (2) khách thể (đối tượng) hoạt động lý luận ↔ (3) sản phẩm lý luận ↔(4) những điều kiện của hoạt động lý luận.

    Chủ thể hoạt động lý luận là con người hoạt động lý luận, có nhu cầu, mục đích, tiềm năng, năng lực trí tuệ, thể lực, tinh thần nói chung, có kỹ năng, kinh nghiệm, các phương tiện, công cụ hoạt động lý luận (vật chất và tinh thần, hệ thống khái niệm, phạm trù, quan niệm.), đặc trưng cho nó. Chủ thể lý luận còn có những lợi ích, giá trị xã hội, văn hoá đặc trưng cho nó. Mục đích trực tiếp của chủ thể hoạt động lý luận là nắm bắt những quá trình bên trong, tất yếu (bản chất, quy luật) của đối tượng. Mục đích sâu xa của chủ thể hoạt động lý luận là những lợi ích kinh tế – xã hội của những tập đoàn, giai cấp, cộng đồng xã hội mà họ là thành viên của chúng. Chủ thể lý luận có thể là cá nhân, có thể là tập thể, tập đoàn người, cộng đồng xã hội nhất định. Trong hoạt động tập thể, cộng đồng, chủ thể lý luận có sự phân công giữa các cá nhân và các nhóm và vì thế mỗi cá nhân, mỗi nhóm có vị trí, phạm vi hoạt động và vai trò khác nhau. Căn cứ vào những cấp độ khác nhau của hoạt động lý luận có thể thấy những hình thức, dạng, vị trí và vai trò khác nhau của chủ thể lý luận.

    Đối tượng của hoạt động lý luận là những khách thể mà chủ thể lý luận tác động vào nhằm khám phá, nắm bắt những quá trình bên trong, tất yếu của chúng. Những khách thể ấy là những hiện tượng, quá trình tự nhiên, xã hội hoặc đời sống tinh thần. Căn cứ vào mỗi lĩnh vực hoạt động và vào những cấp độ khác nhau của hoạt động lý luận có thể phân chia những dạng, hình thức khác nhau của đối tượng hoạt động lý luận. Có thể cùng một khách thể nhưng mỗi cấp độ, mỗi lĩnh vực lý luận có thể nghiên cứu, khám phá nó từ những góc nhìn riêng. Chẳng hạn, cùng nghiên cứu phương thức sản xuất, nhưng kinh tế và kinh tế – chính trị học tiếp cận khách thể này không hoàn toàn giống nhau. Kinh tế học nghiên cứu phương thức sản xuất thuần tuý về kinh tế, trong khi kinh tế – chính trị học nghiên cứu phương thức sản xuất trong tương quan logic với chế độ chính trị nhất định.

    Điều kiện của chủ thể hoạt động lý luận là môi trường tự nhiên, xã hội và văn hoá cùng với những yếu tố, quá trình vật chất và tinh thần mà trong đó hoặc trên đó hoạt động lý luận diễn ra. Điều kiện của hoạt động lý luận có thể trực tiếp hoặc gián tiếp quy định hoạt động lý luận cả về nội dung và phương thức. Trong tất cả những điều kiện của hoạt độn2 lv luận thì điều kiện đầu tiên, căn bản nhất là chủ thế hoạt động phải được đáp ứng, thoả mãn những nhu cầu sinh sống tối thiểu, ức là họ phải có “ăn, ở, mặc và đi lại”. Hoạt động lý luận còn phải dựa trên nhũng tiền đề lý luận nhất định, đó là bản thân kết quả của hoạt động lý luận trong những giai đoạn lịch sử trước đó, chẳng hạn những khái niệm, những phạm trù, những lý thuyết đó có trong lịch sử. Chủ thể lý luận cần kế thừa một cách tích cực, có phê phán những tiền đề lý luận mới làm cho sản phẩm hoạt động lý luận của mình đạt trình độ cao, tương xứng với yêu cầu của thời đại.

    Sản phẩm của hoạt động lý luận hay kết quả của hoạt động lý luận, là những học thuyết, quan niệm, tư duy, là năng lực tư duy nâng lên sau hoạt động, là quá trình kết tinh, chuyển hoá lý luận vào các lĩnh vực nhận thức khác v.v. Sản phẩm lý luận rất đa dạng. Tuỳ theo lĩnh vực và cấp độ hoạt động lý luận nhất định mà có những hình thức sản phẩm hoạt động lý luận tương ứng. Sản phẩm hoạt động lý luận có thế là chính con người, nhưng không phải là con người nói chung, mà là con người lý luận, con người tinh thần, tuy nhiên đây không phải là sản phẩm chỉ của hoạt động lý luận.

    Hoạt động lý luận có thể là hoạt động của từng cá nhân, có thể là của tập thể, thậm chí của một tầng lóp, tập đoàn, cộng đồng xã hội nhất định.

    Hoạt động lý luận bao gồm những quá trình diễn ra bên trong bộ óc chủ thể lý luận và những quá trình bên ngoài bao gồm những yếu tố và điều kiện bên ngoài (hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, hoạt động tố chức trong các cơ quan, viện nghiên cứu.). Sở dĩ phải phân biệt hai quá trình này là vì, quá trình diễn ra bên trong bộ óc được xem là quá trình bên trong cơ bản của hoạt động lý luận. Quá trình này trực tiếp đưa đến các kết quả là những học thuyết, quan điểm lý luận và nó diễn ra theo phương thức cá nhân, thông qua bộ não của những cá nhân nhất định.

    Trong khi phê phán, chỉ ra những khuyết điểm của chủ nghĩa duy vật cũ, kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơ-bách, Mác đã chỉ ra khá rõ ràng và toàn diện những đặc trưng của thực tiễn. Theo ông, thực tiễn là một quan hệ chủ thể-khách thể, nó vừa là hoạt động khách quan, cảm tính, vừa có tính phê phán-cách mạng, đồng thời là thực chất của mọi đời sống xã hội. Trong Bút ký triết học, Lênin nhận định: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà còn của tính hiện thực trực tiếp”. Kết họp những luận điểm, nhận định đó của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, có thể chỉ ra nhũng đặc trưng của thực tiễn như sau: a) Thực tiễn là hoạt động của con người, vì vậy nó là một quan hệ chủ thể – khách thể; b) Thực tiễn là hoạt động khách quan, cảm tính, hoạt động vật chất phổ biến. Thực tiễn phân biệt, đổi lập với hoạt động nhận thức, tinh thần, tức là những quá trình diễn ra thuần tuý trong bộ óc người, hoặc những hoạt động chủ yếu nhằm tạo ra và khẳng định những giá trị tinh thần. Sự phân biệt, đối lập với hoạt động lý luận, nhận thức của thực tiễn là ở tính vật chất phổ biến, xem như đặc trưng cơ bản nổi bật của nó. Tính vật chất của thực tiễn bao trùm toàn bộ quá trình hoạt động, thể hiện rõ ở nhu cầu, mục đích cuối cùng, ở các phương tiện và đặc biệt ở sản phẩm cuối cùng mà nó tạo ra; c) Thực tiễn là hoạt động biến đổi (không phải chỉ là cải biến) hin thực; d) Thực tiễn là hoạt động căn bản, nền tảng của mọi hoạt động của con người và xã hội; e) Thực tiễn là hoạt động có tính xã hội và lịch sử.

    Cần nhấn mạnh thêm là không nên nói thực tiễn là “hoạt động vật chất” thuần túy, bởi vì nói như vậy sẽ không phân biệt được hoạt động đặc thù của con người với hoạt động của con vật. Đối với con người thì không có hoạt động nào là hoạt động vật chất thuần tuý.

    Ngay cả những hoạt động vật chất nhất, sinh vật nhất của con người cũng bao hàm quá trình có ý thức trong đó rồi. Cho nên, ở con người, thực tiễn cũng là hoạt động có ý thức. Nhưng để phân biệt thực tiễn với hoạt động lý luận, hoạt động tinh thần nói chung, cần chỉ ra đặc tính cơ bản của nó là tính vật chất phổ biến, tức là phải quan niệm thực tiễn với tư cách là hoạt động vật chất phổ biến.

    Thực tiễn có tính khuynh hướng và tính khuynh hướng này thường do những lợi ích của những tập đoàn xã hội nhất định quy định. Vì vậy, thực tiễn có thể tiến bộ, cách mạng, nhưng cũng có thể bảo thủ, phản tiến bộ, phản cách mạng; thực tiễn có thể mang tính chất nhân đạo, nhân văn chủ nghĩa, cũng có thể mang tính chất vô nhân đạo, phi nhân văn, phi nhân tính v.v.

    Phân chia theo lĩnh vực hoạt động, có các hình thức thực tiễn là sản xuất vật chất, hoạt động xã hội hiện thực, thực nghiệm khoa học. Nhưng cũng có thể nói, có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động hiện thực của con người thì có chừng ấy hình thức tồn tại của thực tiễn. Các hình thức hoạt động thực tiễn quan hệ biện chứng với nhau, trong đó sản xuất vật chất, suy đến cùng là lĩnh vực hoạt động nền tảng, có vai trò quyết định đến hoạt động trên các lĩnh vực khác.

    3. Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn

    Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn có thể được xem xét từ nhiều góc độ, quan điểm khác nhau.

    3.1. Mối liên hệ vừa thống nhất vừa đối lập giữa lý luận và thực tiễn

    Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn: a) Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thể hiện ra là mối liên hệ không thể tách rời giữa lý luận và thực tiễn. Lý luận nảy sinh từ thực tiễn, thực tiễn quy định nội dung lý luận, lý luận hình thành, phát triển là vì mục đích thực tiễn. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thể hiện ra là tính tương thích, tương ứng giữa chúng. Thực tiễn bao giờ cũng là thực tiễn có những lý luận của nó và lý luận bao giờ cũng là của thực tiễn nhất định. Không có thực tiễn của mọi lý luận, cũng như không có lý luận cho mọi thực tiễn; c) Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn cũng có nghĩa là đồng nhất giữa thực tiễn và lý luận, đó là sự chuyển hoá lý luận thành thực tiễn, áp dụng lý luận thành công trong thực tiễn, là sự phù họp của lý luận với thực tiễn. Đồng nhất giữa lý luận và thực tiễn còn thể hiện ở chỗ lý luận như một thành tố, một quá trình, một sản phẩm tất yếu của thực tiễn.

    Quan niệm về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn có nội dung cơ bản là về sự phù hợp của lý luận với thực tiễn. Nhung sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là thống nhất trong khác biệt, đối lập.

    Sự đối lập giữa lý luận và thực tiễn: a) Với tư cách là hai mặt của thể thống nhất, lý luận và thực tiễn đối lập với nhau với tư cách là đối lập của cái phản ánh, cái sản phẩm với cái được phản ánh, cái nguồn gốc, cái cơ sở; b) Chúng còn biểu hiện sự đối lập giữa cái bị quy định và cái quy định; c) Đối lập của lý luận với thực tiễn còn thể hiện ở sự lạc hậu của lý luận so với thực tiễn hoặc ngược lại, hoặc đối lập với tư cách sự sai lầm của lý luận so với thực tiễn và ngược lại.

    “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình, Sự tranh cãi về tính hiện thực hay không hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là vấn đề kinh viện thuần tuý“. Trong luận điểm triết học nổi tiếng này Mác bàn trực tiếp đến tư duy nói chung, trong đó bao hàm cả lý luận và ông chỉ rõ vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận, ông chỉ ra rằng muốn biết “tư duy con người có thể đạt tới chân lý khách quan không”, rằng “sự tranh cãi về tính hiện thực hay không hiện thực của tư duy”, “hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà ỉà một vấn đề thực tiễn“. Điều đó có nghĩa là muốn đạt đến chân lý khách quan, muốn làm cho tư duy con người có tính hiện thực, thì phải thấy được mối liên hệ chặt chẽ của tư duy với thực tiễn, phải căn cứ vào thực tiễn, lấy thực tiễn làm cơ sở. Bởi vì, “chính trong thực tiễn con người phải chứng minh chân lý, tính hiện thực, sức mạnh của tư duy của mình”. Như vậy, ở đây thực tiễn được chỉ ra không chỉ với nghĩa là cơ sở nói chung của nhận thức, lý luận, mà còn ở chỗ là cơ sở cho tính hiện thực, sức mạnh, tính chân lý của tư duy, lý luận, nghĩa là cho cả cái con đường, nguyên tắc để tư duy đạt đến chân lý, đạt được tính hiện thực, sức mạnh của nó.

    Lênin khẳng định: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”. Luận điểm của Lênin không trực tiếp nói rằng thực tiễn là cơ sở của hoạt động lý luận, mà nói về vị trí, vai trò của quan điểm về đời sống, quan điểm về thực tiễn trong lý luận nhận thức, cụ thể là nói về mặt phương pháp luận của lý luận nhận thức. Song việc khẳng định vị trí, vai trò của quan điểm đó đã chứng tỏ vai trò quan trọng quyết định của thực tiễn đối với nhận thức nói chung và lý luận nói riêng.

    Cần thấy rằng trong khi trình bày quan niệm về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chúng đã bao hàm quan niệm về vai trò của thực tiễn đối với lý luận. Tuy vậy, không thể đồng nhất hoàn toàn mối liên hệ giữa thực tiễn và lý luận với mối liên hệ giữa thực tiễn và nhận thức nói chung. Trái lại, điều quan trọng, cần thiết ở đây là phải làm rõ tính đặc thù của mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận (lý luận và thực tiễn).

    Về vai trò của lý luận đối với thực tiễn

    Do tính phổ biến, lý luận có thể dẫn đường cho các giai cấp, thậm chí toàn xã hội trong hoạt động, nhưng điều đó có thể diễn ra với hai khuynh hướng, xu hướng, hai khả năng khác nhau. Nếu lý luận tiến bộ, cách mạng, nó sẽ trở thành sức mạnh vật chất (khi nó “thâm nhập vào quần chúng”), và như thế nó sẽ góp phần làm nên những thay đổi tích cực, kỳ diệu đối với đời sổng xã hội. Nhưng khi lý luận bảo thủ, lạc hậu nó có thể trở thành sức kìm hãm xã hội rất lớn và trên diện rộng, nó có thể làm tê liệt về tinh thần cả một tập đoàn, giai cấp, xã hội, làm cho cả tập đoàn, giai cấp, xã hội bế tắc, mất phương hướng.

    Vai trò hết sức quan trọng của lý luận là khẳng định tính chủ thể của con người. Chỉ khi con người nắm bắt được bản chất, quy luật của đối tượng mới có thể chi phối đối tượng, do đó mới có thể khẳng định tính chủ thể của mình. Cho nên, con người cần phải có lý luận trong hoạt động. Mỗi cấp độ của lý luận khẳng định tính chủ thể con người một cách khác nhau. Lý luận của khoa học cụ thể khẳng định tính chủ thế của nhà khoa học, lý luận chung của một lĩnh vực khẳng định chủ thế cộng đồng nhà khoa học, lý luận ở cấp độ cao, cấp độ 2 khẳng định tính chủ thể của giai cấp, cộng đồng xã hội.

    Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn không phải là mối liên hệ của hai quá trình độc lập với nhau được kết họp lại với nhau theo một cách thức nào đó, mà trái lại, có cơ sở, căn cứ của chúng. Cơ sở, căn cứ ấy chính là bản thân thực tiễn. Rõ ràng là chỉ có trong thực tiễn con người mới sản sinh ra nhận thức, lý luận của mình và sự ra đời của nhận thức, lý luận là do yêu cầu tất yếu của thực tiễn, đó là thực tiễn cần phải được nhận thức, được ý thức (“ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là tồn tại được ý thức”- Mác). Như vậy, lý luận (hay ý thức nói chung) trở thành một yếu tố, vòng khâu (mắt xích) của thực tiễn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 12 : Những Thành Tựu Chủ Yếu Và Ý Nghĩa Lịch Sử Của Cách Mạng Khoa Học Kĩ Thuật Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai
  • Ý Nghĩa Sự Phát Triển Của Cách Mạng Khoa Học Và Công Nghệ Với Toàn Cầu Hóa
  • Khoa Học Là Gì Và Công Nghệ Là Gì? Vai Trò Của Khoa Học Và Công Nghệ
  • Ý Nghĩa Của Việc Treo Chuông Gió Trong Phong Thủy Chuyển Nhà
  • Treo Chuông Gió Phong Thủy
  • Lý Luận Và Thực Tiễn: Mối Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa Phương Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Vấn Đề Này, Sự Vận Dụng Của Đảng Ta
  • Unicorn Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Unicorn
  • Nghị Luận Xã Hội Về Ý Nghĩa Của Việc Đọc Sách
  • Bài 21. Hoạt Động Hô Hấp
  • Ý Nghĩa Của Những Ước Mơ Trong Cuộc Đời Mỗi Người
  • là hai trong số những quan trọng của triết học Mác – Lênin. Việc tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù này sẽ giúp chúng ta có nhiều bài học bổ ích trong nhận thức và trong lao động, trong công tác.

    Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.

    Bản chất của hoạt động thực tiễn là sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể.

    Hoạt động thực tiễn rất đa dạng, song có thể chia thành ba loại:

    – Hoạt động chính trị – xã hội;

    – Hoạt động thực nghiệm khoa học.

    Trong ba loại trên, hoạt động sản xuất vật chất có vai trò quyết định đối với các loại hoạt động thực tiễn. Còn hoạt động chính trị – xã hội là hình thức cao nhất của thực tiễn. Hoạt động khoa học là loại hình đặc biệt nhằm thu nhận kiến thức từ tự nhiên và xã hội .

    Theo nghĩa chung nhất, lý luận là sự khái quát hóa những kinh nghiệm thực tiễn, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy trong suốt quá trình tồn tại của nhân loại.

    Như vậy, lý luận là sản phẩm cao cấp của , là tri thức về bản chất, quy luật của hiện thực khách quan.

    Nhưng do là sản phẩm của nhận thức, nên lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.

    II. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

    Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là hoạt động vật chất, sản xuất ra mọi thứ, còn lý luận là sản phẩm tinh thần, phản ánh thực tiễn.

    Thực tiễn là cơ sở, động lực của lý luận. Tức là, thực tiễn là bệ phóng, cung cấp các nguồn lực cho lý luận. Thực tiễn còn vạch ra tiêu chuẩn cho lý luận.

    Thông qua hoạt động thực tiễn, lý luận mới được vật chất hóa, hiện thực hóa, mới có sức mạnh cải tạo thế giới khách quan.

    2. Tuy nhiên, lý luận có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại thực tiễn.

    Lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người.

    Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn. Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”.

    Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất.

    Lý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật trong tương lai, chỉ ra những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn.

    Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát. Vì vậy, Bác Hồ đã ví “không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”.

    Tuy nhiên, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao của sự phản ánh hiện thực nên lý luận có thể xa rời thực tiễn và trở nên ảo tưởng.

    Khả năng tiêu cực đó càng tăng lên nếu lý luận đó lại bị chi phối bởi những tư tưởng không khoa học hoặc phản động. Vì vậy, phải coi trọng lý luận, nhưng không được cường điệu vai trò của lý luận, coi thường thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn.

    Điều đó cũng có nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng.

    Như Bác Hồ đã khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”.

    – Không được tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn, hạ thấp vai trò của lý luận trong lao động, công tác, sản xuất.

    Nếu không coi trọng vai trò của lý luận, ta sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa kinh nghiệm. Nếu không có lý luận, ta sẽ ở vào tình trạng mò mẫm, không phương hướng, không xác định được các chương trình, kế hoạch khả thi.

    – Ngược lại, ta không được đề cao vai trò của lý luận đến mức xem nhẹ thực tiễn, rời vào bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí. Việc xa rời thực tiễn sẽ đưa đến những chương trình, kế hoạch viển vông, lãng phí nhiều sức người, sức của.

    – Trong sự nghiệp Đổi Mới hiện nay, ta phải không ngừng đổi mới tư duy gắn liền với nắm sâu, bám sát thực tiễn.

    Chỉ có đổi mới tư duy lý luận, gắn liền với việc đi sâu, đi sát vào thực tiễn thì mới đề ra đường đường lối, chủ trương đúng đắn trong việc xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Chung Và Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Lớp Hình Nhện
  • Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Việc Nghiên Cứu Các Cơ Chế Của Hành Vi Sai Lệch Đối Với Lĩnh Vực Pháp Luật
  • Thực Tiễn Là Gì? Nhận Thức Là Gì? Theo Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng: Thực Tiễn Có Vai Trò Gì Đối Với Nhận Thức?
  • Thực Tiễn Là Gì? Phân Tích Vai Trò Của Thực Tiễn Đối Với Nhận Thức.
  • Ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài Ctxh Hỗ Trợ Tâm Lý Cho Trẻ Em Mồ Coi

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Xét Nghiệm Hba1C Đối Với Bệnh Nhân Đái Tháo Đường
  • Học Bằng C Bao Nhiêu Tiền Là Giá Học Lái Xe Hạng C Trọn Gói?
  • 1 Inch Bằng Bao Nhiêu Cm, Mm, M? Cách Quy Đổi Chính Xác Nhất
  • 1 Mẫu Bằng Bao Nhiều Sào ? Bao Nhiêu M2 ? Đối Với Bắc, Trung, Nam
  • 1 Btu Bằng Bao Nhiêu Kw, Kcal, Cách Quy Đổi Hp Sang Kw
  • ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài Ctxh Hỗ Trợ Tâm Lý Cho Trẻ Em Mồ Coi, ý Nghĩa Lý Luận Đề Tài Ctxh Hỗ Trợ Tâm Lý Cho Trẻ Em Mồ Coi, Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn ý Nghĩa Phương Pháp Luận Vận Dụng Ppl Trong Công Tác, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Là Gì, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Về Vật Chất, ý Nghĩa Lý Luân Và Thực Tiễn Của Đề Tài Công Tác Văn Phong, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Cương Lĩnh, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Thực Tiễn, ý Nghĩa Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Tiểu Luận Ctxh Với Người Tâm Thần, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Thực Tiễn Mà Không Có Lý Luận Là Thực Tiễn Mù Quáng, Lý Luận Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Thực Tiễn Không Có Lý Luận Là Thực Tiễn Mù Quáng, Luạn Văn Ctxh Trong Giảm Nghèo, Tiểu Luận Ctxh Hỗ Trợ Người Nghèo Tiếp Cận Thông Tin, ý Nghĩa Thực Tiễn Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Luật Nghĩa Vụ Và Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ-bản án Và Bình Luận Bản án, Tiền Đề Lý Luận Ra Đời Chủ Nghĩa Mác, Lý Luận Của Chủ Nghĩa Mác Về Tiền Tệ, Tiền Đề Lý Luận Ra Đời Của Chủ Nghĩa Mác, Định Nghĩa Nào Về Thực Tiễn, Định Nghĩa Nào Về Thực Tiễn Sau Đây Là Đầy Đủ Và Chính Xác Nhất, ý Nghĩa Thực Tiễn Quân Đội Trong Tình Hình Hiện Nay, Tiểu Luận Nguyên Tắc Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Tiểu Luận Sự Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông, Lý Luận Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Là Câu Nói Của Ai, Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Thực Tiễn, Lý Luận Thực Tiễn Là Gì, Lý Luận Đi Đôi Với Thực Tiễn, Lý Luận Và Thực Tiễn Là Gì, Lý Luận Là Gì Thực Tiễn Là Gì, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn, Lý Luận Gắn Với Thực Tiễn, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn Htv4, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 20 Năm Đổi Mới, Lý Luận Phải Đi Đôi Với Thực Tiễn, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 30 Năm Đổi Mới, Lý Luận Gắn Liền Với Thực Tiễn, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn Qua 30 Năm Đổi Mới, Lý Luận Và Thực Tiễn Công Tác Lưu Trữ, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Dạy Học, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận Thực Tiễn Sau 30 Năm Đổi Mới, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn Htv9, Báo Cáo Tiến Độ Thực Hiện Luận Văn Thạc Sĩ, Mối Liên Hệ Giwuax Lý Luận Và Thực Tiễn, Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Dự Thảo Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 30 Năm Đổi Mới, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Triết Học, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Giáo Dục, Chỉ Thị Của Ban Bí Thư Về Tổng Kết Một Số Chuyên Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 20 Đổi Mới, Báo Cáo Tiến Độ Thực Hiện Luận Văn Của Học Viên, Thủ Tục Hành Chính Lý Luận Và Thực Tiễn, Diễn Biến Hòa Bình Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Công Việc, Luận án Tiến Sĩ Công Nghệ Thực Phẩm, Lý Luận Thực Tiễn Và Sự Vận Dụng Quan Điểm Đó Vào Quá Trình Đổi Mới ở Việt Nam, Quy Trình Ban Hành Luật, Pháp Lệnh Lý Luận Và Thực Tiễn, Hãy Phân Tích Thực Tiễn Và Vai Trò Của Thực Tiễn Đối Với Nhận Thức, Trên Cơ Sở Lý Luận Thực Tiễn Về Phát Huy Dân Chủ, Giữ Nghiêm Kỷ Luật, Phấn Đấu Xứng Danh Bộ Đội Cụ H, Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Trên Cơ Sở Lý Luận Thực Tiễn Về Phát Huy Dân Chủ, Giữ Nghiêm Kỷ Luật, Phấn Đấu Xứng Danh Bộ Đội Cụ H, Danh Mục Sách Thư Viện Của Khoa Ctxh, Sự Vận Dụng Nguyên Tắc Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đcsvn Trong Thời Kì Đổi Mới., Nghiên Cứu Khoa Học Về Ctxh Trong Bệnh Viện, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Phương Thức Sản Xuất, Báo Cáo Tham Luận Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến Ngành Giáo Dục, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Bài Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến Công An Nhân Dân, Bài Tham Luận Gương Điển Hình Tiên Tiến Trong Công An Nhân Dân, Lý Luận Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Và ý Nghĩa Trong Việc Hình Thành Cộng Đồng Asean, Bài Tham Luận Về Gương Điển Hình Tiên Tiến, Bài Tham Luận Tại Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Tham Luận Tại Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Bài Tham Luận Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Bài Tham Luận Về Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Báo Cáo Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến Cá Nhân, Báo Cáo Tham Luận Cá Nhân Điển Hình Tiên Tiến, Tham Luận Gương Điển Hình Tiên Tiến, Báo Cáo Tham Luận Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Mẫu Tham Luận Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Báo Cáo Tham Luận Tại Hội Nghị Điển Hình Tiên Tiến, Bài Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến Cá Nhân, Báo Cáo Tham Luận Gương Điển Hình Tiên Tiến, Bài Tham Luận Gương Điển Hình Tiên Tiến, Mẫu Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến, Báo Cáo Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến 5 Năm, Báo Cáo Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến Tập Thể, Bài Tham Luận Báo Cáo Điển Hình Tiên Tiến, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc, Báo Cáo Tham Luận Điển Hình Tiên Tiến, Bài Tham Luận Về Điển Hình Tiên Tiến, Luật Nghĩa Vụ Dân Sự Và Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ Dân Sự, Tiểu Luận Về Các Kỹ Năng Lãnh Đạo Cần Thiết Của Cấp Phòng Và Thực Tiễn Lãnh Đạo Cấp Phòng ở Cơ Quan, Định Nghĩa Tiền, Định Nghĩa ưu Tiên, ý Nghĩa Văn Bản Bài Học Đường Đời Đầu Tiên,

    ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài Ctxh Hỗ Trợ Tâm Lý Cho Trẻ Em Mồ Coi, ý Nghĩa Lý Luận Đề Tài Ctxh Hỗ Trợ Tâm Lý Cho Trẻ Em Mồ Coi, Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn ý Nghĩa Phương Pháp Luận Vận Dụng Ppl Trong Công Tác, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Là Gì, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Về Vật Chất, ý Nghĩa Lý Luân Và Thực Tiễn Của Đề Tài Công Tác Văn Phong, ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Cương Lĩnh, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Thực Tiễn, ý Nghĩa Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Tiểu Luận Ctxh Với Người Tâm Thần, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Thực Tiễn Mà Không Có Lý Luận Là Thực Tiễn Mù Quáng, Lý Luận Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Thực Tiễn Không Có Lý Luận Là Thực Tiễn Mù Quáng, Luạn Văn Ctxh Trong Giảm Nghèo, Tiểu Luận Ctxh Hỗ Trợ Người Nghèo Tiếp Cận Thông Tin, ý Nghĩa Thực Tiễn Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Luật Nghĩa Vụ Và Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ-bản án Và Bình Luận Bản án, Tiền Đề Lý Luận Ra Đời Chủ Nghĩa Mác, Lý Luận Của Chủ Nghĩa Mác Về Tiền Tệ, Tiền Đề Lý Luận Ra Đời Của Chủ Nghĩa Mác, Định Nghĩa Nào Về Thực Tiễn, Định Nghĩa Nào Về Thực Tiễn Sau Đây Là Đầy Đủ Và Chính Xác Nhất, ý Nghĩa Thực Tiễn Quân Đội Trong Tình Hình Hiện Nay, Tiểu Luận Nguyên Tắc Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Tiểu Luận Sự Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông, Lý Luận Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông, Lý Luận Mà Không Có Thực Tiễn Là Lý Luận Suông Là Câu Nói Của Ai, Lý Luận Và Thực Tiễn, Lý Luận Thực Tiễn, Lý Luận Thực Tiễn Là Gì, Lý Luận Đi Đôi Với Thực Tiễn, Lý Luận Và Thực Tiễn Là Gì, Lý Luận Là Gì Thực Tiễn Là Gì, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn, Lý Luận Gắn Với Thực Tiễn, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn Htv4, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 20 Năm Đổi Mới, Lý Luận Phải Đi Đôi Với Thực Tiễn, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận – Thực Tiễn Qua 30 Năm Đổi Mới, Lý Luận Gắn Liền Với Thực Tiễn, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn Qua 30 Năm Đổi Mới, Lý Luận Và Thực Tiễn Công Tác Lưu Trữ, Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Dạy Học, Báo Cáo Tổng Kết Một Số Vấn Đề Lý Luận Thực Tiễn Sau 30 Năm Đổi Mới, Từ Lý Luận Đến Thực Tiễn Htv9, Báo Cáo Tiến Độ Thực Hiện Luận Văn Thạc Sĩ, Mối Liên Hệ Giwuax Lý Luận Và Thực Tiễn, Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Đề Tài
  • Ăn Uống Khoa Học Để Khỏe Mạnh: Tại Sao Không?
  • Bạn Đã Thực Sự Hiểu Ý Nghĩa Của Việc Ăn Uống Có Khoa Học?
  • Fsf: Các Tạp Chí Của Fantasy Và Khoa Học Viễn Tưởng
  • Chủ Nghĩa Mác Ra Đời, Phát Triển Trên Cơ Sở Những Điều Kiện, Tiền Dề Cơ Bản Nào? Hãy Nêu Khái Quát Các Điều Kiện, Tiền Đề Đó?
  • Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Vấn Đề Này, Sự Vận Dụng Của Đảng Ta

    --- Bài mới hơn ---

  • Unicorn Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Unicorn
  • Nghị Luận Xã Hội Về Ý Nghĩa Của Việc Đọc Sách
  • Bài 21. Hoạt Động Hô Hấp
  • Ý Nghĩa Của Những Ước Mơ Trong Cuộc Đời Mỗi Người
  • Nghị Luận Về Vấn Đề Theo Đuổi Ước Mơ
  • Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề này. Sự vận dụng của Đảng ta. Đáp án Sự gắn kết giữa nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn luôn là một đòi hỏi cấp bách và là một phương thức để mang đến thành công cho hoạt động của mỗi cá nhân, của tổ chức và của một chính đảng. Nhận thức đúng và giải quyết hợp lý mối quan hệ biện chứng tác động qua lại của lý luận và thực tiễn, dùng lý luận làm kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, thực tiễn phải là cơ sở, động lực của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý … luôn là chìa khóa để để giải quyết mọi vướng mắc trên con đường đi đến mục tiêu đã định. Ngược lại, nhận thức không đúng và giải quyết không tốt mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, kinh viện và chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc chủ quan duy ý chí, tất nhiên sẽ dẫn đến những thất bại mà đối với một chính đảng, sự thất bại đó có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Trước hết, ta đi vào các khái niệm cơ bản: 1- Thực tiễn là gì? Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học Mác – Lênin nói chung. * Quan điểm của triết học trước Mác: – Điđơrô (nhà triết học Pháp): hiểu chưa đầy đủ về thực tiễn, cho rằng thực tiễn là hoạt động thực nghiệm khoa học trong phòng thí nghiệm. – Phoiơbắc (nhà triết học duy vật siêu hình người Đức): thực tiễn chỉ là những hoạt động bẩn thỉu của các con buôn. – Hêghen (nhà triết học duy tâm khách quan người Đức): thực tiễn chỉ là khái niệm, tư tưởng thực tiễn chứ không phải bản thân thực tiễn với tư cách là hoạt động vật chất. * Quan điểm triết học mácxít: Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Hoạt động thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động vật chất của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất (để phân biệt với hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận), hay nói theo thuật ngữ của Mác là hoạt động vật chất “cảm tính” của con người. Hoạt động thực tiễn là hoạt động đặc trưng và bản chất của con người, được thực hiện một cách tất yếu khách quan và được tiến hành trong các quan hệ xã hội, là hoạt động mang tính năng động, sáng tạo, là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xa hội loài người. Hoạt động thực tiễn có ba dạng cơ bản, đó là: + Hoạt động sản xuất vật chất: là hình thức hoạt động cơ bản đầu tiên của thực tiễn, có vai trò quyết định đối với các dạng hoạt động khác của thực tiễn. Vì: nó là hoạt động nguyên thủy nhất và tồn tại một cách khách quan, thường xuyên nhất trong đời sống con người và nó tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu có tính quyết định đến sự sinh tồn và phát triển của con người và xã hội loài người. + Hoạt động chính trị – xã hội: là hoạt động của các cộng đồng người khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển. + Hoạt động thực nghiệm khoa học: là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra gần giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các qui luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu. 2- Lý luận là gì? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Xét về bản chất: lý luận là một hệ thống tri thức chặt chẽ mang tính trừu tượng khái quát, đúc kết từ thực tiễn, được diễn đạt thông qua các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật … phản ánh bản chất của sự vận động, biến đổi, phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức, được hình thành trong mối quan hệ với thực tiễn. 3 – Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn: Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ với nhau, tác động qua lại nhau, trong đó thực tiễn giữ vai trò quyết định. Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận: Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, của lý luận đồng thời là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thực, lý luận. Thực tiễn là nguồn gốc cơ sở sinh ra lý luận, nến không có thực tiễn thì không có lý luận, thực tiễn cao hơn lý luận không những ở tính phổ biến mà còn ở tính hiện thực trực tiếp. Sự phản ánh vượt trước của lý luận qua nỗ lực sáng tạo của những thiên tài ở những giai đoạn lịch sử nhất định xét cho đến cùng thì cái làm nên sự vượt trước ấy cũng đã được nảy mầm từ mảnh đất thực tiễn sinh động, đều do thực tiễn gợi ý mách bảo Chỉ có thông qua thực tiễn con người mới vật chất hóa dược lý luận vào đời sống hiện thực. Lý luận không có sức mạnh tự thân mà chỉ có thông qua thực tiễn thì lý luận mới phát huy tác dụng, mới tham gia vào quá trình biến đổi hiện thực. Đánh giá vai trò của thực tiễn đối với lý luận, Lênin viết: “Thực tiễn cao hơn nhận thức, lý luận. Vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà còn của tính hiện thực trực tiếp”. Vai trò tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn: Lý luận có thể thúc đẩy tiến trình phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận khoa học và ngược lại có thể kìm hãm sự phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận phản khoa học, phản động, lạc hậu. Lý luận khoa học sẽ trở thành kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn. Nó hướng dẫn, chỉ đạo, soi sáng cho thực tiễn, vạch ra phương pháp giúp hoạt động thực tiễn đi tới thành công. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Lý luận đem lại cho thực tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vận động và phát triển của thế giới khách quan, giúp con người xác định đúng mục tiêu để hành động có hiệu quả hơn, tránh được những sai lầm, vấp váp. Lý luận khoa học thâm nhập vào hoạt động của quần chúng tạo nên sức mạnh vật chất, điều chỉnh hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động của con người trở nên tự giác, chủ động, tiết kiệm được thời gian, công sức, hạn chế những mò mẫm, tự phát. Lý luận khoa học dự kiến sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong tương lai, từ đó chỉ ra phương hướng mới cho sự phát triển. Con người ngày càng đi sâu khám phá giới tự nhiên vô cùng vô tận bằng những phương tiện khoa học hiện đại thì càng cần có những dự báo đúng đắn. Nếu dự báo không đúng sẽ dẫn đến những sai lầm, hậu quả xấu không thể lường được trong thực tiễn. Vì thế, chức năng dự báo tương lai là chức năng quan trọng của lý luận. Lý luận cách mạng có vai trò to lớn đối với thực tiễn cách mạng. Lênin cho rằng: “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”. Mác thì nhấn mạnh: “Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì nó biến thành lực lượng vật chất”. Vai trò của lý luận khoa học ngày càng tăng lên, đặc biệt trong giai đoạn mới của thời đại ngày nay, thời đại của cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc diễn ra gay go, phức tạp, cùng với sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Ph. Ăngghen chỉ ra rằng: một dân tộc muốn đứng trên đỉnh cao khoa học thì không thể không có tư duy lý luận. Sự lạc hậu, giáo điều về lý luận dẫn đến sự khủng hoảng về lý luận của chủ nghĩa xã hội trong thời gian qua là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội nói chung, cụ thể là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trước đây. Nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn: Theo quan điểm mácxít, lý luận và thực tiễn không tách rời nhau mà giữa chúng có sự liên hệ, xâm nhập và tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của triết học Mác – Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin là tiêu biểu cho sự gắn bó mật thiết giữa lý luận và thực tiễn trong qúa trình hình thành và phát triển của nó. Lý luận Mác – Lênin là sự khái quát thực tiễn CM và lịch sử xã hội, là sự đúc kết những tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh vực khác nhau. Sức mạnh của nó là ở chỗ gắn bó hữu cơ với thực tiễn xã hội, được kiểm nghiệm, bổ sung trong thực tiễn. Chính vì vậy mà nó có vai trò cải tạo thế giới chứ không chỉ giải thích thế giới. Chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và triết học Mác – Lênin nói riêng đã tìm thấy ở giai cấp vô sản vũ khí vật chất của mình và giai cấp vô sản đã tìm thấy ở triết học Mác – Lênin vũ khí tinh thần của mình. Lênin từng nhắc nhở những người cộng sản ở các nước phải biết cụ thể hóa chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc, từng nơi. Lý luận cần phải được bổ sung bằng những kết luận mới được rút ra từ thực tiễn sinh động. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Thống nhất lý luận với thực tiễn là nguyên tắc căn bản của triết học Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” hoặc “Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ”. 4- Ý nghĩa phương pháp luận: Việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng, giúp chúng ta tránh được bệnh kinh nghiệm cũng như bệnh giáo điều và rút ra được những quan điểm đúng đắn trong nhận thức và cuộc sống. Trước hết, cần phải quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, sâu sát thực tiễn, tổ chức hoạt động thực tiễn để triển khai lý luận, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung phát triển lý luận. Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành, tránh tình trạng quan liêu, bàn giữaấy, sách vở, xa rời thực tiễn. Đồng thời cần phải phát huy vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Phát huy vai trò của lý luận yêu cầu phải nâng cao trình độ tư duy lý luận, đổi mới phương pháp tư duy cho toàn Đảng, toàn dân nghĩa là chuyển từ tư duy kinh nghiệm sang tư duy lý luận, từ tư duy siêu hình, duy tâm sang tư duy biện chứng duy vật; đổi mới công tác lý luận, hướng công tác lý luận vào những vấn đề do cuộc sống đặt ra, làm rõ những căn cứ khách quan của đường lối chính sách của Đảng. Nếu coi thường thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn thì sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. + Bệnh kinh nghiệm: là căn bệnh tuyệt đối hóa kinh nghiệm, nhận thức và hành động chỉ dựa vào kinh nghiệm, đề cao vai trò thực tiễn, hạ thấp lý luận, không chịu học hỏi để vương lên, không coi trọng việc tổng kết thực tiễn để khái quát thành lý luận. Thể hiện ở chỗ tuyệt đối hoá kinh nghiệm, coi thường lý luận, “chỉ biết tối ngày vùi đầu vào công tác sự vụ”, ít đào sâu suy nghĩ, nhất là đối với những người trình độ văn hoá kém, ít quen đọc sách và suy nghĩ, áp dụng kinh nghiệm một cách thiếu sáng tạo. + Bệnh giáo điều: là căn bệnh tuyệt đối hóa lý luận, nhận thức và hành động chỉ dựa vào lý luận, coi lý luận là “chìa khóa vạn năng” cho tư duy và hành động, bất chấp điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Thể hiện ở chỗ: coi tri thức là chân lý tuyệt đối, là cứng nhắc, tách lý luận khỏi thực tiễn, rơi vào bệnh lý luận suông, không biết cụ thể hóa lý luận cách mạng cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng lúc, từng nơi, không biết bổ sung lý luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động và vận dụng một cách máy móc, rập khuôn, cứng nhắc, thiếu sáng tạo vào hoạt động nhận thức cũng như hoạt động cải tạo hiện thực mà không chú ý đến điều kiện lịch sử cụ thể đối tượng, mang lại hiệu quả xấu cho hoạt động lý luận và thực tiễn. Xét từ khía cạnh trình độ nhận thức thì bệnh giáo điều có nguồn gốc từ sự yếu kém về tư duy lý luận, nhất là lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Để khắc phục hai căn bệnh trên cần phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, thường xuyên tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận, đồng thời phải coi trọng lý luận, nâng cao trình độ tư duy lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu “phải học tập tinh thần chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập lập trường quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”. Từ nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giưa lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh đã phê phán sai lầm của chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa giáo điều. Khi đặt vấn đề phải học tập lý luận theo Người, học lý luận không phải để thuộc lòng từng câu từng chữ, cũng không phải học lý luận để đem loà thiên hạ, để kiêu ngạo, để mặc cả với Đảng, để trở thành những người lý luận suông. Mà mục đích học tập lý luận để tự cải tạo mình, để tránh mò mẫm, để đỡ phạm sai lầm trong công tác, để hoàn thành tốt hơn các nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó. Học tập lý luận là cốt áp dụng vào thực tế và khi vận dụng thì bổ sung, làm phong phú thêm lý luận bằng những lý luận mới sinh ra từ trong thực tiễn. 5- Sự vận dụng của Đảng ta: Trước đổi mới: Do chưa nhận thức đầy đủ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường, chưa gắn lý luận với thực tế điều kiện, hoàn cảnh ở nước ta nên đã chủ quan, nóng vội, bỏ qua những bước đi cần thiết. Một trong những sai lầm trong chính sách của Đảng trong thời kỳ trước đổi mới là xuất phát từ căn bệnh giáo điều, xuất phát từ sự lạc hậu, yếu kém về lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sự yếu kém về lý luận làm cho chúng ta tiếp thu lý luận Chủ nghĩa Mác Lênin một cách giản đơn, phiến diện, cắt xén sơ lược, không đến nơi đến chốn, CNXH được hiểu một cách giản đơn, ấu trĩ. Trong thời kỳ này, đã có lúc ta bắt chước rập khuôn mô hình CNXH ở Liên Xô trong việc thành lập các bộ ngành của bộ máy nhà nước. Hoặc áp dụng máy móc theo học thuyết của Mác về kinh tế là phải xóa bỏ tư hữu, do đó khi áp dụng vào nước ta, Đảng đã có biểu hiện nóng vội trong việc tiến hành cải tạo XHCN nhằm xóa tất cả các thành phần kinh tế mà không thấy được vai trò quan trọng của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Đảng ta cũng vấp phải những sai lầm trong việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách phát triển đất nước: Chủ trương tập trung cho công nghiệp hóa đất nước mà chủ lực là phát triển công nghiệp nặng mà không chú ý đến điều kiện vật chất và lực lượng sản xuất của ta còn chưa tương xứng, với xuất phát điểm còn rất thấp từ một nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nông nghiệp là chính, trình độ lực lượng sản xuất không cao, sản xuất thủ công là chủ yếu. Có thể nói việc bố trí cơ cấu kinh tế trước hết là sản xuất và đầu tư, chúng ta thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không tính đến điều kiện khả năng thực tế. Sự nhận thức giản đơn, yếu kém trong việc vận dụng xơ cứng lý luận vào trong còn thể hiện ở việc hiểu và vận dụng chưa đúng các quy luật khách quan đang tác động trong thời kỳ quá độ ở nước ta (quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, các quy luật sản xuất hàng hoá, quy luật thị trường…), quá nhấn mạnh một chiều vai trò của quan hệ sản xuất, của chế độ công hữu, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ. Mặt khác, duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, quá tập trung quyền lực nhà nước, dùng kế hoạch pháp lệnh để chỉ huy toàn bộ nền kinh tế đất nước, bao cấp trong phân phối … làm cản trở sự sáng tạo, tạo nên sự bảo thủ trì trệ của đời sống xã hội. Cũng trong thời kỳ này chúng ta đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, coi nhẹ những giá trị, những thành tựu mà nhân loại đạt được trong chủ nghĩa tư bản; muốn nhanh chóng xoá bỏ sản xuất hàng hoá, xoá bỏ sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xem kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa đối lập với CNXH là do căn cứ một cách cứng nhắc vào luận điểm của Mác và Ăngghen rằng chủ nghĩa cộng sản là xóa bỏ buôn bán; cùng với việc xã hội nắm lấy những tư liệu sản xuất thì sản xuất hàng hóa cũng bị loại trừ và do đó sự thống trị của hàng hóa đối với những người sản xuất cũng bị loại trừ. Thực ra những luận điểm của CácMác và Ăngghen chỉ là những dự đoán về giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa cộng sản chứ không phải nói về giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản : giai đoạn chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, trong giai đoạn chủ nghĩa xã hội, Mác đã nhấn mạnh : đó là một xã hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, vì vậy về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần nó vẫn còn mang những dấu vết của xã hội cũ, nói cách khác, hệ thống kinh tế – xã hội của CNXH còn mang nhiều dấu ấn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Như vậy, làm sao xóa ngay được cái “dấu vết” đặc trưng của chủ nghĩa tư bản là kinh tế hàng hóa cũng như không thể xóa bỏ chế độ tư hữu ngay lập tức mà chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần. Hậu quả của những sai lầm xuất phát sự nhận thức yếu kém về lý luận và xa rời thực tiễn đã làm cho đường lối chính sách của Đảng ta đề ra không phù hợp với thực tiễn nên đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội : Nnhiều vấn đề mấu chốt và thiết yếu nhất của cuộc sống nhân dân (ăn, mặc, ở) vẫn chưa được giải quyết đầy đủ; đất nước chưa có những thay đổi sâu sắc và triệt để trong phương thức phát triển; tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng; nhiệt tình lao động và năng lực sáng tạo của nhân dân, tài nguyên và các nguồn lực chưa được khai thác, phát huy đầy đủ, thậm chí bị xói mòn. Nhìn tổng quát, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế Việt Nam vận động thiếu năng động và kém hiệu quả. Những mất cân đối và nguy cơ bất ổn định tiềm tàng trong đời sống kinh tế – xã hội bị tích nén lại Tình trạng thiếu hụt kinh niên làm gia tăng các căng thẳng trong đời sống xã hội. Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước giảm sút. Trên thực tế, đến cuối những năm 70, đất nước đã thực sự lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội. Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam lúc này là tìm kiếm cách thức phát triển mới có khả năng đáp ứng các mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó quan trọng nhất là phải tháo gỡ các ràng buộc về cơ chế và thể chế để giải phóng các nguồn lực phát triển của đất nước. Đại hội IV chưa xác định được những mục tiêu của chặng đường đầu tiên. Cụ thể là trong 5 năm 1976 – 1980, đảng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết, chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cụ thể là đã đề ra những chỉ tiêu kế hoạch quá cao về xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất, không coi trọng đúng mức việc khôi phục và sắp xếp lại nền kinh tế, chỉ thiên về xây dựng công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn, không tập trung sức giải quyết căn bản vấn đề lương thực, thực phẩm, phát triển hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Đại hội V đã cụ thể hóa một bước đường lối kinh tế trong chặng đường trước mắt, đề ra những mục tiêu tổng quát, các chính sách lớn về kinh tế, xã hội nhưng trong chỉ đạo thực hiện đã không quán triệt đầy đủ các quy luật khách quan, chưa kiên quyết khắc phục tư tưởng nóng vội chủ quan và bảo thủ thể hiện chủ yếu trong các chủ trương về cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và cơ chế quản lý kinh tế. Cụ thể là đã chưa thật sự coi trọng phát triển nông nghiệp, coi nhẹ về tổ chức, đầu tư, chính sách đối với công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, kể cả tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp. Về xây dựng cơ bản, vẫn thiên về xây dựng các công trình quy mô lớn nhưng chưa thật cấp bách, kém hiệu quả dẫn đến sự phân tán về tiền vốn và vật tư. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, đi đôi với việc ra sức xây dựng những cơ sở và lực lượng kinh tế mới, phải rất coi trọng cải tạo và sử dụng tốt các cơ sở và lực lượng kinh tế sẵn có bằng những hình thức và bước đi thích hợp. Nhưng chúng ta chưa xác định rõ ràng, nhất quán những quan điểm, chủ trương chính sách chỉ đạo công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, đã có những biều hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh. Đối với kinh tế tiểu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Luận Và Thực Tiễn: Mối Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa Phương Pháp
  • Đặc Điểm Chung Và Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Lớp Hình Nhện
  • Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Việc Nghiên Cứu Các Cơ Chế Của Hành Vi Sai Lệch Đối Với Lĩnh Vực Pháp Luật
  • Thực Tiễn Là Gì? Nhận Thức Là Gì? Theo Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng: Thực Tiễn Có Vai Trò Gì Đối Với Nhận Thức?
  • Ý Nghĩa Khoa Học Và Thực Tiễn

    --- Bài mới hơn ---

  • Hba1C Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Hba1C
  • Chỉ Số Hba1C: Định Nghĩa, Chỉ Số Bình Thường, Ý Nghĩa
  • 【Giải Đáp】‎chỉ Số Hba1C Là Gì?
  • Halloween Là Gì & Ý Nghĩa Của Lễ Hội Halloween
  • Ý Nghĩa Và Nguồn Gốc Của Ngày Lễ Halloween
  • Cùng dự còn có các đồng chí Lê Quang Dực, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Nguyễn Văn Trình, Ủy viên Ban Thường vụ, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh; lãnh đạo Sở Văn hóa-Thông tin, Quân khu I, Quân khu II; đại diện Ban Tuyên giáo TW, Bộ Thông tin Truyền thông, Viện Lịch sử Việt Nam…

    Cách đây tròn 60 năm, trên mảnh đất lịch sử Việt Bắc-Căn cứ địa kháng chiến của cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã anh dũng đập tan cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn của thực dân Pháp lên Việt Bắc. Với chiến thắng oanh liệt này, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp, đảm bảo an toàn cho các cơ quan đầu não của TW.

    Chiến thắng Việt Bắc trở thành một sự kiện lịch sử lớn trong cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta, trở thành biểu tượng của ý chí quyết chiến, quyết thắng, thể hiện khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo của quân và dân ta. Thắng lợi đã khẳng định sự đúng đắn đường lối kháng chiến của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Cuộc hội thảo về Chiến thắng Việt Bắc Thu đông 1947 mang nhiều ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn, nhằm khẳng định và làm sáng tỏ thêm về một số vấn đề: Âm mưu và hành động xâm lược, bản chất hiếu chiến, phiêu lưu mạo hiểm của thực dân Pháp thông qua kế hoạch tiến công lên Việt Bắc hòng phá căn cứ địa và chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến của ta; Sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của TW Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc và toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; Tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta mà trực tiếp là quân, dân vùng Việt Bắc đã tạo nên sức mạnh to lớn của cuộc chiến tranh nhân dân chống lại kẻ thù xâm lược trong giai đoạn đầu rất khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; nghệ thuật chỉ đạo xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, bảo vệ cơ quan đầu não TW, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân; tầm vóc, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và những bài học kinh nghiệm về xây dựng, bảo vệ đất nước, vận dụng và phát huy trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng, an ninh nhân dân hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Việc Đeo Nhẫn Ở Các Ngón Tay Theo Phong Thủy
  • Ý Nghĩa Cây Hoa Giấy Trong Phong Thủy Nhà Ở Và Cách Trồng, Chăm Sóc
  • Tên Tiếng Anh Và Ý Nghĩa Của Các Loài Hoa Đẹp
  • Hình Ảnh Đẹp Về Hoa Đỗ Quyên Và Ý Nghĩa Của Nó
  • Truyền Thuyết Về Hoa Giấy
  • Mang Ý Nghĩa Khoa Học Và Thực Tiễn Cao

    --- Bài mới hơn ---

  • Vận Dụng Quan Điểm “Lý Luận Gắn Với Thực Tiễn” Của Hồ Chí Minh Với Việc Nâng Cao Hiệu Quả Trong Giảng Dạy Lý Luận Chính Trị Tại Trường Chính Trị Tỉnh Bình Phước
  • Lý Luận Và Xây Dựng Nền Tảng Lý Luận
  • Nội Dung Định Nghĩa Vật Chất Của V.i. Lênin? Giá Trị Của Nó Dưới Ánh Sáng Khoa Học Hiện Đại? – Sách Điện Tử Triết Học Mác – Lênin
  • Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì ?
  • Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư Vẫn Còn Nguyên Giá Trị Trong Bối Cảnh Mới
  • Sau 3 năm triển khai thực hiện (2008-2010), tháng 6-2011, Đề tài nghiên cứu khoa học “Sưu tầm, bảo tồn, nghiên cứu phục hồi và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Raglai trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa” do Thạc sĩ Nguyễn Hữu Bài – nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch tỉnh làm chủ nhiệm đã được Sở Khoa học – Công nghệ nghiệm thu và xếp loại xuất sắc. Đề tài không chỉ sưu tập được nhiều tài liệu gốc, hiện vật quý có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, mà còn đưa ra những giải pháp khả thi nhằm bảo tồn, phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống (VHTT) của người Raglai.

    . Tính cấp thiết của đề tài

     

    Bộ đàn đá của dân tộc Raglai.

    Trên địa bàn tỉnh, người dân tộc Raglai chỉ chiếm 3,4% dân số, sống tập trung chủ yếu ở hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh. Trước đây, nhiều tác giả đã nghiên cứu về văn hóa của người Raglai như: Công trình “Người Raglai ở Việt Nam” của Nguyễn Tuấn Triết; đề tài “Văn hóa và xã hội người Raglai” của nhóm nghiên cứu Phan Xuân Biên, các công trình sưu tập luật tục, sử thi Raglai của Phan Đăng Nhật, Phan Đăng Kính… Tuy nhiên, phần lớn các công trình trên chỉ nghiên cứu và phản ảnh từng mảng đơn lẻ, thiếu tính hệ thống và giải pháp bảo tồn, phát huy những giá trị VHTT của người Raglai. Trong khi đó, VHTT của người Raglai trên địa bàn tỉnh mang nhiều nét đặc thù khác biệt. Do vậy, tính cấp thiết là đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu mang tính tổng thể, hệ thống và logic về các giá trị văn hóa của người Raglai ở Khánh Hòa.

    Thạc sĩ Nguyễn Hữu Bài – chủ nhiệm đề tài cho biết: “Những giá trị VHTT của người Raglai như: tập tục cúng tế, hát kể, hát khan, ca dao, tục ngữ… chỉ có những người già, nghệ nhân lớn tuổi mới biết và nắm rõ. Tuy nhiên hiện nay, số lượng người già cũng như những nghệ nhân lớn tuổi của dân tộc Raglai còn rất ít, chỉ khoảng hơn chục người. Vì vậy, nếu không kịp thời tiến hành nghiên cứu, sưu tầm thì chắc chắn phần lớn những giá trị VHTT sẽ mất đi vĩnh viễn”. So với những giá trị truyền thống lâu đời của dân tộc Raglai, những giá trị văn hóa còn gìn giữ được đến ngày nay đã thay đổi, biến dạng rất nhiều từ kiến trúc nhà ở, phục trang, đồ trang sức, dụng cụ sinh hoạt, nhạc cụ… Nếu không được tiếp tục bảo tồn, phát huy thì những giá trị văn hóa đó sẽ mai một cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của lối sống hiện đại.

    . Mang tính thực tiễn cao

    Tham quan phòng trưng bày hiện vật của đề tài, chúng tôi mới thấy hết được thành quả và công sức của nhóm tác giả. Các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống của người dân tộc Raglai được trưng bày rất phong phú và đa dạng: 3 bộ cồng chiêng; 2 bộ đàn đá; sáo tacung, salaken, 57 tài liệu; 350 đĩa CD ghi hát kể, ca dao, tục ngữ, 100 ảnh tư liệu… Ngoài ra, nhóm tác giả còn phục dựng nghi lễ mừng lúa mới, lễ bỏ mả, dựng lại mô hình nhà ở truyền thống của người Raglai, khắc họa đời sống sinh hoạt bằng tranh sơn dầu…

    Để có được thành quả trên, 15 thành viên trong nhóm tác giả đã phải nghiên cứu và sưu tầm suốt 3 năm. Nhóm tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: khảo sát điền dã, điều tra, kết hợp với phương pháp thống kê, chuyển khảo, đối chiếu so sánh… Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu liên ngành, phỏng vấn trực tiếp, hồi cố, xác lập lý lịch khoa học… cũng được nhóm tác giả áp dụng để có cơ sở nắm bắt, thu thập tư liệu và phản ánh trung thực diện mạo văn hóa vật thể và phi vật thể của người Raglai. Tuy phải đi đến những vùng rừng núi, nơi có người Raglai sinh sống, khó khăn về giao thông, ngôn ngữ nhưng mỗi thành viên trong nhóm đều cố gắng hoàn thành tiến độ nghiên cứu, và quan trọng hơn là đã tìm kiếm được nhiều tài liệu gốc, có ý nghĩa.

    Tại hội nghị báo cáo nghiệm thu đề tài, 3 báo cáo chuyên đề của nhóm nghiên cứu gồm: Tổng quan về tổ chức xã hội của người Raglai; văn hóa vật thể; văn hóa phi vật thể đã được Hội đồng Khoa học cấp tỉnh đánh giá cao và xếp loại xuất sắc. Quan trọng hơn, từ những thực trạng đáng lo ngại về sự mai một các giá trị VHTT của dân tộc Raglai, nhóm nghiên cứu đã có nhiều kiến nghị, giải pháp cụ thể để gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa đó. Những giải pháp mang đậm tính thực tiễn và hệ thống như: Việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đối với dân tộc thiểu số; gìn giữ lối kiến trúc nhà ở truyền thống, trang phục, tiếng nói, chữ viết, luật tục, nghi lễ văn hóa… cũng được Hội đồng Khoa học ghi nhận.

    Được biết, các báo cáo chuyên đề cũng như những tài liệu, hiện vật mà nhóm tác giả đã thu thập sẽ được đề nghị với UBND tỉnh in thành sách để phổ biến rộng rãi đến công chúng. Đây cũng là một giải pháp thiết thực nhằm gìn giữ, bảo tồn những giá trị VHTT của dân tộc Raglai – một tộc người có số dân đông nhất trong 31 dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn tỉnh.

    HOÀNG DUNG

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Lịch Sử Ngày Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam 18
  • Giá Trị Của Khoa Học
  • Gương Trang Điểm Là Quà Tặng Bạn Gái
  • Chuông Gió Furin – Món Đồ Phong Thủy Độc Đáo Ở Nhật Bản
  • Furin (風鈴) – Linh Hồn Gió Của Người Nhật
  • Hoán Vị Gen Có Ý Nghĩa Gì Trong Thực Tiễn?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Tiễn Là Gì? Phân Tích Vai Trò Của Thực Tiễn Đối Với Nhận Thức.
  • Thực Tiễn Là Gì? Nhận Thức Là Gì? Theo Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng: Thực Tiễn Có Vai Trò Gì Đối Với Nhận Thức?
  • Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Việc Nghiên Cứu Các Cơ Chế Của Hành Vi Sai Lệch Đối Với Lĩnh Vực Pháp Luật
  • Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Đặc Điểm Chung Và Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Lớp Hình Nhện
  • Chủ đề :

    Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Cho biết các côđon mã hóa các axit amin tương ứng như sau: UUU – Phe; XXG – Pro; XAU – His; GXX – Ala; AAG – Lys; UAX – Tyr; GAA: Glu. Một đoạn mạch gốc của một gen ở vi khuẩn chúng tôi có trình tự các nuclêôtit là 5’GTAXTTAAAGGXTTX 3′. Nếu đoạn mạch gốc này mang thông tin mã hóa cho đoạn polipeptit có 5 axit amin thì trình tự của 5 axit amin đó là
    • Mạch 1 của gen có G/X = 3/4. Với nội dung trên có bao nhiêu phát biểu sai?
    • Khi nào thì cụm gen cấu trúc (Z, Y, A) trong opêron Lac ở E. coli không thể bắt đầu hoạt động?
    • Dịch mã là quá trình
    • Guanin dạng hiếm (G*) liên kết với Timin trong nhân đôi ADN gây đột biến
    • Khi nói về thể đa bội, phát biểu nào sau đây là sai?
    • Trường hợp cơ thể sinh vật có thêm một NST trong cặp NST tương đồng nào đó, di truyền học gọi là
    • Khi nói về cấu trúc siêu hiển vi của nhiễm sắc thể, thành phần cấu tạo của một nuclêôxôm gồm
    • Khi nói về gen ngoài nhân, có bao nhiêu phát biểu đúng?
    • Vì sao mã di truyền mang tính thoái hóa?
    • Theo lý thuyết, phép lai nào sau đây cho đời con có kiểu hình phân ly theo tỉ lệ 50% ruồi cái mắt đỏ: 25% ruồi đực mắt đỏ: 25%% ruồi đực mắt trắng?
    • Ở sinh vật nhân thực, tâm động của nhiễm sắc thể
    • Trong mô hình cấu trúc của opêron Lac, vùng khởi động là nơi
    • So với đột biến nhiễm sắc thể thì đột biến gen là nguồn nguyên liệu sơ cấp chủ yếu của tiến hoá vì
    • Theo lí thuyết, các phép lai nào sau đây cho đời con có các kiểu gen phân li khác tỉ lệ 1:2:1 biết không xảy ra đột biến mới, các thể tứ bội giảm phân tạo giao tử 2n có khả năng thụ tinh?
    • Đột biến loại nào tạo nên hội chứng trẻ sơ sinh có tiếng khóc như mèo kêu?
    • Ở cà chua gen A quy định thân cao, a thân thấp, B: quả tròn, b: quả bầu dục. Cho biết quá trình giảm phân tạo noãn và tạo hạt phấn diễn ra giống nhau, hãy xác định kiểu gen của F1 và tần số trao đổi chéo f giữa các gen?
    • Hiện tượng kiểu hình của một cơ thể thay đổi trước các điều kiện môi trường khác nhau gọi là sự
    • Ở đậu Hà Lan gen A quy định hạt vàng, a quy định hạt xanh; B quy định hạt trơn, b quy định hạt nhăn, hai cặp gen này phân li độc lập với nhau. Cho cặp bố mẹ có kiểu gen AaBb x aabb tỉ lệ kiểu hình xuất hiện ở F1 là
    • Điều hòa hoạt động gen là điều hòa
    • Gen đa hiệu là hiện tượng như thế nào?
    • Các gen liên kết hoàn toàn, mỗi gen qui định một tính trạng và trội hoàn toàn. Có bao nhiêu phép lai cho đời con có tỉ lệ kiểu gen giống tỉ lệ kiểu hình?
    • Khi nói về đột biến gen, có bao nhiêu phát biểu sau đây đúng? về đột biến gen
    • Cơ chế phát sinh thể lệch bội chủ yếu là do
    • Hoán vị gen có ý nghĩa gì trong thực tiễn?
    • Theo quan niệm của Menđen, mỗi tính trạng của cơ thể do
    • Các bước trong phương pháp lai và phân tích cơ thể lai của Men Đen gồm: Trình tự các bước Men Đen đã tiến hành nghiên cứu để rút ra được quy luật di truyền là
    • Trong quá trình nhân đôi của ADN NST diễn ra trong pha:
    • Cho P: aaBbDdeeFf x AABbDdeeff thì tỷ lệ kiểu hình ở con lai F1: A – bbD – eeff là bao nhiêu:
    • Trường hợp gen cấu trúc bị đột biến thay thế 1 cặp G – X bằng một cặp A – T thì số liên kết hidro là bao nhiêu:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Hoán Vị Gen (Di Truyền Liên Kết Không Hoàn Toàn) Sinh 12
  • Hoán Vị Gen Là Gì? Đặc Điểm, Ý Nghĩa Của Hoán Vị Gen
  • Ý Nghĩa Số 3 Là Gì? Số 03 Có Ý Nghĩa Gì Trong Phong Thủy Sim Số Điện Thoại
  • Hé Lộ Ý Nghĩa Số 3
  • Hé Lộ Sự Thật Thú Vị Về Ý Nghĩa Số 13
  • Lý Luận Và Xây Dựng Nền Tảng Lý Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Định Nghĩa Vật Chất Của V.i. Lênin? Giá Trị Của Nó Dưới Ánh Sáng Khoa Học Hiện Đại? – Sách Điện Tử Triết Học Mác – Lênin
  • Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì ?
  • Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư Vẫn Còn Nguyên Giá Trị Trong Bối Cảnh Mới
  • Pháp Luật Dân Sự
  • Làm Rõ Ý Nghĩa Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư Trong Bài: Những Vấn Đề Cơ Bản Của Phương Thức Sản Xuất Tư Bản Chủ Nghĩa Ở Phần I.1
  • Lý luận là một hệ thống các quan điểm phản ánh thực tiễn, được thể hiện dưới dạng hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra những quan niệm tương đối hoàn chỉnh về các mối liên hệ cơ bản và các quy luật của hiện thực khách quan. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, mọi lý luận chân chính đều bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh đúng thực tiễn và trở lại phục vụ thực tiễn. Vì lẽ đó, lý luận là một nội dung, một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của một chính đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền mà không có lý luận dẫn đường thì “cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(1), cách mạng sẽ không có “phong trào vận động” và đảng sẽ không thể làm nổi “trách nhiệm cách mạng tiền phong”.

    Để đạt được mục tiêu cải biến xã hội, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, đòi hỏi mỗi chính đảng cầm quyền phải xây dựng cho được một nền tảng lý luận, đáp ứng ba yêu cầu cơ bản: Một là, đáp ứng nhu cầu phát triển của quảng đại quần chúng nhân dân. Hai là, thường xuyên tạo ra động lực phát triển của xã hội theo xu thế phát triển của thời đại. Ba là, gắn kết với thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra. Ba nội dung này có nội hàm gắn kết biện chứng với nhau, không tách rời nhau, làm cho nền tảng lý luận ngày càng thêm phong phú và trở thành vũ khí tư tưởng sắc bén cho phong trào cách mạng của đảng.

    Thực tiễn cách mạng luôn cho thấy, lý luận mà không đáp ứng được nhu cầu phát triển của quảng đại quần chúng nhân dân, xa rời mục tiêu, lợi ích của nhân dân thì đảng cầm quyền sẽ không thể tập hợp được sức mạnh to lớn, vĩ đại từ trong quần chúng nhân dân. Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực sáng tạo ra lịch sử, nếu lý luận không làm thỏa mãn yêu cầu phát triển của nhân dân, thì tất yếu cách mạng sẽ đánh mất cả mục tiêu lẫn động lực. Chỉ khi nào lý luận thâm nhập được vào quần chúng, được quần chúng kiểm nghiệm, thì lý luận mới trở thành sức mạnh vật chất, thành vũ khí tư tưởng sắc bén, như C. Mác đã từng phân tích: “Lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng có thể trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng”(2).

    Lý luận nếu không tạo ra động lực phát triển của xã hội, không đảm bảo được  vai trò đột phá, đi trước, mở đường thì đảng sẽ không làm được “cách mạng vận động”; không  tổ chức, dẫn dắt được nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Trên thực tế, tác dụng và sức sống của lý luận luôn phụ thuộc vào khả năng của chính nó. Tức là, khả năng khái quát bản chất của hiện thực khách quan, rút ra quy luật phát triển, giải đáp kịp thời những vấn đề cấp bách của lịch sử để tiếp tục mở đường, thúc đẩy lịch sử phát triển. Ngược lại, thì phong trào cách mạng sẽ bế tắc, đảng cầm quyền sẽ khủng hoảng về đường lối chính trị, niềm tin của nhân dân sẽ bị lung lạc, cách mạng sẽ gặp khó khăn.

    Lý luận nếu không gắn kết với thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra, sẽ không đáp ứng được yêu cầu phát triển liên tục của xã hội cũng như những nguyện vọng thiết tha của quần chúng nhân dân. Về nguyên lý, sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn là có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời nhau. Lý luận là cái phản ánh thực tiễn, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là căn cứ để kiểm chứng tính đúng đắn của lý luận. Xét đến cùng, lý luận là từ thực tiễn mà đúc kết, khái quát lên để tiếp tục dẫn dắt thực tiễn phát triển. Thực tiễn là cái bổ sung và làm phong phú, sắc bén thêm lý luận. Trong điều kiện phát triển phức tạp của hiện thực, nếu lý luận xa rời thực tiễn thì lý luận trở nên giáo điều, khô cứng, sáo rỗng; còn thực tiễn mà không có lý luận dẫn đường thì đó là thực tiễn “mù quáng”. Trên thực tế, khi nào và ở đâu lý luận gắn kết được với thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra thì lúc đó, ở đó hệ tư tưởng của đảng và những giá trị văn hóa của dân tộc, những tinh hoa văn hóa thời đại được hội tụ và nhân lên, chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, cách mạng sẽ phát triển không ngừng.

    Nhận thức rõ tầm quan trọng và vai trò “làm cốt” của lý luận, ngay từ những giai đoạn “trứng nước” của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, nhắc nhở Đảng ta “cần phải chăm lo xây dựng nền tảng lý luận tiền phong của Đảng”; “cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận,… chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”(3).

    Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Kiên định và Phát triển nền tảng lý luận Mác xít, xây đắp phong phú thêm hệ thống lý luận cơ bản, đường lối cơ bản, cương lĩnh cơ bản của Đảng, thể hiện trên những phương diện căn bản sau:

    Thứ nhất, kiên định nền tảng lý luận của Đảng. Lịch sử Đảng gần 90 năm xây dựng và trưởng thành đã chứng minh, trong mọi hoàn cảnh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn toàn tâm, toàn ý: “Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”, xây dựng nền tảng lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng phong phú, sinh động, giúp cho Đảng ta luôn vững vàng về tư tưởng chính trị, tổ chức và tác phong công tác.

    Kiên định nền tảng lý luận của Đảng, không có nghĩa là rập khuôn, máy móc mà là kiên định với những nguyên lý cơ bản của nền tảng lý luận đó, thể hiện ở lập trường cách mạng triệt để của giai cấp công nhân; ở quan điểm khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật; và ở phương pháp biện chứng để giải quyết các vấn đề tự nhiên, xã hội. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. Luận điểm này đã khẳng định một vấn đề có tính nguyên tắc, đặt nền móng lâu dài cho công tác xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận. Cụ thể với Việt Nam, lý luận của Đảng dựa trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam…;  là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”(4).

    Thứ hai, phát triển sáng tạo nền tảng lý luận của Đảng. Mặc dù chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vũ khí lý luận sắc bén, là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng, nhưng tự bản thân nó không phải là một hệ thống lý luận giáo điều, nhất thành bất biến. Chỉ khi nào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực tiễn, thì nó mới thực sự có sức sống mãnh liệt, soi rọi con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn và nhân dân ta đang tiếp bước.

    Thế giới không ngừng có những diễn biến phức tạp và biến động khó lường, luôn đặt ra rất nhiều tình hình mới, vấn đề mới cần phải trả lời cả về lý luận lẫn thực tiễn. Trong bối cảnh đổi mới, Đảng ta luôn đặt vấn đề cần phải làm rõ những luận điểm nào của Mác và Lênin là đúng, bây giờ vẫn đúng và lâu dài về sau vẫn đúng; những luận điểm nào trước kia đúng nhưng điều kiện lịch sử hiện nay đã thay đổi, không còn phù hợp cần phải bổ sung, phát triển… Từ đó, Đảng luôn chủ trương đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, đánh giá đầy đủ, chính xác thực tiễn, tập trung nghiên cứu lý luận, giải đáp kịp thời những vấn đề lý luận do thực tiễn đặt ra.

    Hiện nay, với sự tồn tại cục diện đa dạng hóa các chủ thể lợi ích trong xã hội, sẽ gây nên những ảnh hưởng nhất định tới nền tảng lý luận của Đảng, đó là điều khó tránh khỏi. Nhiều quan điểm lý luận, quan niệm tư tưởng khác nhau nảy sinh và cùng tồn tại, đây là một trong những nguyên nhân làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động về tư tưởng và “chao đảo” về các quan niệm giá trị; thậm chí, bị mê hoặc vào những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch “diễn biến hòa bình”, dẫn đến nghi ngờ chủ nghĩa Mác – Lênin, nghi ngờ chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Đó là một thực tế chúng ta đang đang phải đối diện, trong khi vẫn còn nhiều vấn đề lý luận chưa được thống nhất và chưa được giải đáp thuyết phục.

    Trên thực tế, đã có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân có biểu hiện chao đảo về lập trường, mất phương hướng về niềm tin, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mà tác hại của nó, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(5). Bài học lịch sử về sự đổ vỡ của CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có một nguyên nhân quan trọng là các đảng cầm quyền ở những nước đó đã đánh mất vai trò soi đường của lý luận Mác xít, xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin, làm cho hệ ý thức tư tưởng trong nội bộ bị rối loạn và mất khả năng hiệu triệu quần chúng.

    Bên cạnh đó, nếu chỉ kiên trì mà không phát triển thì lý luận sẽ trở nên giáo điều, khô héo, không đáp ứng được nhu cầu phát triển của quảng đại quần chúng nhân dân, không tạo ra được động lực phát triển của xã hội và chắc chắn không thể giải đáp kịp thời, khoa học những vấn đề biến động không ngừng của thực tiễn. Đại hội XII của Đảng đặt ra yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đẩy mạnh công tác thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước”(6). Đây cũng chính là biện pháp tốt nhất để đấu tranh với các khuynh hướng sai lầm, mơ hồ trong nhận thức của cán bộ, đảng viên; đồng thời, làm thất bại âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, khi họ cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết đã lỗi thời, không thể giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra trong thế giới đương đại; rằng nó chỉ là một môn phái học thuật đơn thuần, không có vai trò chỉ đạo, soi đường đối với cách mạng và kiến thiết đất nước; rằng CNXH là hoang tưởng, chỉ có chủ nghĩa tư bản mới là vĩnh hằng,… Đó là những luận điệu hoàn toàn sai trái và cũng là nguyên nhân tại sao chúng ta phải luôn luôn kiên định và phát triển không ngừng nền tảng lý luận của Đảng.

    Kiên định và phát triển là hai phạm trù có nội hàm khác nhau, nhưng thống nhất với nhau, giúp Đảng ta luôn kiên định sự chỉ đạo, soi đường của lý luận khoa học, giải quyết kịp thời các vấn đề thực tiễn đặt ra; đồng thời, trở lại làm phong phú, sâu sắc thêm nền tảng lý luận của Đảng. Từ đó, vượt qua khó khăn, thách thức và những cản trở của thời cuộc, vững bước đi lên cùng thời đại. Kiên định và phát triển vừa là nguyên tắc vừa là phương châm công tác cơ bản và cũng là thái độ ứng xử đúng đắn của Đảng ta đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống giáo điều, xét lại trong nghiên cứu lý luận, xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm xây dựng nền tảng lý luận của Đảng ngày càng phát triển.

    Thấm nhuần phương châm “chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được nhiều thành quả có ý nghĩa lịch sử to mà trước hết là nhờ vào cái vũ khí không gì thay thế được là nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời là sự đổi mới và phát triển không ngừng, đầy sáng tạo nền tảng lý luận. Cách mạng Việt Nam nhờ đó đã khắc phục được những bế tắc, khủng hoảng và khó khăn về đường lối lãnh đạo mà trước đó, các nhà cách mạng tiền bối luôn phải cam chịu “cả trăm thất bại mà không một thành công”. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Có lý luận soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát triển được tài năng và lực lượng vô cùng tận của mình”(7)./.

    Phương Vinh

    Bài đăng TCTG số 6/2019

    ——————————————————————————

    (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.2, tr.289.

    (2) C.Mác – Ph.Ăngghen: Tuyển tập, Nxb. Sự Thật, H,1980, tr.25.

    (3), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.280, 277.

    (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2011, tr. 88.

    (5) Nguyễn Phú Trọng: Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 

    4 khóa XII, Báo Nhân dân ngày 14-10-2016.

    (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2022, tr.199-201.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vận Dụng Quan Điểm “Lý Luận Gắn Với Thực Tiễn” Của Hồ Chí Minh Với Việc Nâng Cao Hiệu Quả Trong Giảng Dạy Lý Luận Chính Trị Tại Trường Chính Trị Tỉnh Bình Phước
  • Mang Ý Nghĩa Khoa Học Và Thực Tiễn Cao
  • Ý Nghĩa Lịch Sử Ngày Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam 18
  • Giá Trị Của Khoa Học
  • Gương Trang Điểm Là Quà Tặng Bạn Gái
  • Đặc Điểm Chung Và Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Lớp Hình Nhện

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Luận Và Thực Tiễn: Mối Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa Phương Pháp
  • Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn, Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Vấn Đề Này, Sự Vận Dụng Của Đảng Ta
  • Unicorn Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Unicorn
  • Nghị Luận Xã Hội Về Ý Nghĩa Của Việc Đọc Sách
  • Bài 21. Hoạt Động Hô Hấp
  • Lớp hình nhện là một nhóm loài động vật chân khớp. Theo thống kê, nhóm hình nhện có tới hơn 36.000 loài. Đây là nhóm động vật chân khớp sống trên cạn đầu tiên và có thể sinh sống ở nhiều môi trường khác nhau. Đa số lớp hình nhện sống ở trên cạn, đặc biệt là ở những nơi rậm rạp. Nhưng cũng có một số ít sống ở môi trường nước ngọt và môi trường biển.

    Với số lượng loài đa dạng (lên tới 36000 loài), lớp hình nhện rất đa dạng về số loài và phong phú về tập tính. Điều này góp vai trò quan trọng vào việc đẩy mạnh sự đa dạng sinh thái.

    Ngoài ra, vai trò của lớp hình nhện còn được thể hiện ở việc bảo vệ môi trường và sức khỏe con người. Đa số loài chân khớp đều có lợi, đặc biệt là nhện vì chúng săn bắt sâu bọ có hại. Một số loài cũng là món ăn ngon và bổ dưỡng cho người và động vật.

    Cơ thể nhện gồm 2 phần là phần đầu – ngực và phần bụng. Ngoài ra chúng còn có 4 đôi chân để bò và các bộ phận khác như kìm, khe thở, lỗ sinh dục và núm tuyến tơ. Trong đó, phần đầu – ngực có chức năng giúp nhện bắt mồi và tự vệ thông qua đôi kìm có chứa độc tố. Đồng thời, 4 đôi chân bò giúp nhện di chuyển và chăng lưới.

    • Tập tính chăng lưới của nhện: đầu tiên nhện sẽ chăng dây tơ để làm khung, sau đó sau đó chăng các dây tơ phóng xạ và tơ vòng để chờ mồi.
    • Tập tính bắt mồi: cách bắt mồi của nhện dựa vào tơ đã chăng.

    Các bước bắt mồi của nhện có thể khái quát như sau: trước tiên, nhện sẽ ngoạm chặt con mồi sau đó chích nọc độc. Tiếp theo, nhện sẽ tiết dịch tiêu hóa vào con mồi rồi trói con mồi vào lưới tơ đã chăng một thời gian. Cuối cùng khi cảm thấy thích hợp, nhện sẽ hút dịch lỏng ở con mồi.

    • Bọ cạp: sống ở nơi khô ráo, hoạt động về ban đêm, cơ thể có phân đốt và có chân bò rất khỏe. Đặc biệt, cuối đuôi của bọ cạp có nọc rất độc.
    • Cái ghẻ: gây bệnh ghẻ ở người, gây ngứa ngáy.
    • Ve bò: bám trên ngọn cỏ, khi có gia súc đi qua sẽ bám vào gia súc để hút máu.

    Lớp hình nhện là loài có chân khớp. Tất cả các loài trong lớp hình nhện chân đều có 8 đốt. Ở một số loài, chân trước đã được tiến hóa thành chức năng cảm giác. Cơ thể của lớp hình nhện đã có cấu tạo rõ ràng và phân chia thành các bộ phận với những chức năng riêng phù hợp với tập tính. Cơ quan tiêu hóa và sinh sản đã dần hoàn thiện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Việc Nghiên Cứu Các Cơ Chế Của Hành Vi Sai Lệch Đối Với Lĩnh Vực Pháp Luật
  • Thực Tiễn Là Gì? Nhận Thức Là Gì? Theo Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng: Thực Tiễn Có Vai Trò Gì Đối Với Nhận Thức?
  • Thực Tiễn Là Gì? Phân Tích Vai Trò Của Thực Tiễn Đối Với Nhận Thức.
  • Hoán Vị Gen Có Ý Nghĩa Gì Trong Thực Tiễn?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×