Top 7 # Ý Nghĩa Kinh Bát Nhã Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Drosetourmanila.com

Ý Nghĩa Rõ Ràng Của Bát Nhã Tâm Kinh

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là một bộ kinh rất ngắn của Đại Thừa Phật giáo nhưng lại có ý nghĩa rất thâm sâu, rất cơ bản, nhằm phá thói quen chấp thật rất nặng nề của chúng sinh. Kinh này được các chùa tụng niệm rất thường xuyên, các thầy cúng đám ma, ngay cả ở nông thôn miền nam Việt Nam cũng tụng kinh này. Có thể nói kinh này rất quen thuộc với Phật tử, nhưng mọi người có hiểu rõ ràng tường tận ý nghĩa của nó không, thì không dám chắc. Bởi vì trong số những người hỏi pháp với thầy Duy Lực, đã có tu sĩ thừa nhận nghe tụng kinh hàng ngày nhưng không hiểu. Mặc dù kinh này đã được nhiều người dịch giải rất kỹ lưỡng, tôi vẫn muốn nêu lại ý nghĩa của kinh dưới cái nhìn rõ ràng của khoa học để người đọc dễ hiểu hơn. Tôi dựa vào quyển kinh nổi tiếng của Ngài Huyền Trang phiên dịch mà thầy Duy Lực đã lược giải, chia thành 8 đoạn .

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh 般若波羅密多心經 là quyển Tâm Kinh nhằm phá chấp thật để hiển hiện trí bát nhã của bờ bên kia (ba la mật) tức là bến bờ giác ngộ.

1/ 觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄

QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH

Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.

Bồ Tát Quán Tự Tại, danh hiệu Quán Tự Tại là chỉ Bồ Tát đã thấu suốt tánh Không của vạn vật, tức không còn bị cái gì ràng buộc, trạng thái đó gọi là hành thâm bát nhã ba la mật đa, trí tuệ thấu suốt bản thể vốn là không của vũ trụ vạn vật, nhìn thấy Ngũ Uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành Thức) đều là không, nên hóa giải tất cả mọi khổ nạn.

Toàn bộ Bát nhã Tâm kinh chỉ nhằm phá thói quen chấp thật. Hiểu được câu này rồi thì các câu sau trở nên dễ hiểu. Quan trọng, mấu chốt nhất là Sắc (vật chất). Hiểu được vật chất là gì thì sẽ hiểu được toàn bộ Bát nhã Tâm kinh, tất cả các câu sau đều là suy luận ra từ tánh không của vật chất và thế giới.

Sắc là vật chất có bản chất là ảo. Vật chất được cấu tạo bởi các hạt ảo là quark và electron. Ba hạt quark tạo ra hạt proton, ba hạt quark cấu tạo theo kiểu khác tạo ra hạt neutron. Proton và neutron tạo thành hạt nhân nguyên tử, kết hợp với electron tạo thành nguyên tử vật chất. Nguyên tử vật chấtđược kết nối với nhau bằng 4 lực cơ bản. Mỗi loại Lực được triển khai bằng một loại hạt tương tác, hút đẩy, hoặc thông tin. Các nhà vật lý tổng kết có 16 loại hạt ở cấp độ dưới nguyên tử tức nhỏ hơn nguyên tử (6 quarks, 6 leptons và 4 loại hạt tương tác- forces là photon, gluon, bosonW và bosonZ ). Trong thập niên 1960 Peter Higgs, nhà vật lý người Anh, nêu lý thuyết là phải có một loại hạt nữa đem lại khối lượng cho vật chất, vì nó chưa có tên nên người ta lấy ngay tên của Higgs để đặt tên cho hạt đó, cũng có người gọi là “hạt của Chúa” vì vai trò cực kỳ quan trọng của nó. Và ngày 4-7-2012, CERN (Centre Européenne pour la Recherche Nucléaire- Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Âu châu) thông báo đã khám phá ra loại hạt mới giống như hạt Higgs. Như vậy mô hình chuẩn của vật lý hiện nay có 17 hạt. Tất cả vũ trụ vạn vật, ngân hà tinh tú, sơn hà đại địa, nhà cửa xe cộ, vật dụng…gom lại chỉ có 4 loại hạt : Quark, Lepton (Electron), Higgs, Forces (lực).

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh – Mạnh Đình Vy – Ca từ – Việt dịch Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (lời hát tiếng Phạn) Dạ Lai Hương hát có dịch nghĩa tiếng Việt

Vật chất trong cuộc sống đời thường của chúng ta cũng là ảo, có những tính chất giống y hệt như thế giới ảo của máy vi tính, chỉ vì chúng ta không quen thấy hoặc chưa từng thấy nên không tin như vậy, thế nên chúng ta hết sức cố chấp, cho rằng vật chất là có thật, thế giới là có thật, chứ không biết rằng chúng ta đang nằm mơ giữa ban ngày. Vì vậy Phật Thích Ca phải bày ra Bát nhã Tâm kinh để phá sự chấp thật đó. Để góp phần phá chấp thật, tôi xin trích một sự kiện có thật 100% xảy ra trong thời hiện đại, trích từ quyển sách Đông Phương Kỳ Nhân của tác giả Liêu Văn Vĩ. Nên nhớ rằng quyển sách này được nhà nước xã hội chủ nghĩa Trung Quốc, một xứ sở tôn sùng chủ nghĩa duy vật, cho phép phát hành chính thức, xuất bản lần thứ nhất, tháng 05-1993 do Đại học Công nghiệp Trung Nam, tỉnh Hồ Nam xuất bản, nên không thể nói là bịa đặt được. Người ta đã phải đấu tranh với nhau rất nhiều, rất lâu, cuối cùng mới công nhận tính chất chân thật của đặc dị công năng mà ngày xưa gọi là thần thông.

Hầu Hi Quý (bên phải) và Diệp Tử Long (thứ hai từ bên trái), thư ký riêng của Mao Trạch Đông

Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel vật lý 1922) nói “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).

Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).

Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại).

Qua ý kiến của 3 nhà khoa học hàng đầu của thế giới, ta thấy rằng ý thức góp phần quan trọng trong cấu thành của vật chất, tức là không thể có vật chất tồn tại độc lập ngoài ý thức. Ngoài ra một vài nhà khoa học nổi tiếng thế giới cũng cho rằng thế giới vật chất chỉ là ảo ảnh. David Bohm quan niệm rằng thực tại mà chúng ta tiếp xúc hằng ngày chỉ là một loại ảo tưởng giống như một bức tranh toàn ảnh (hologram). Dường như thực tại có hai mức: một mức ở sâu hơn gọi là mức tiềm ẩn (cuộn lại) /implicate (enfolded) và một mức gọi là mức tường minh (mở ra) /explicate (unfolded). Một film toàn ảnh (hologram) và hình ảnh nó tạo ra trên màn hình là ví dụ của hai mức tiềm ẩn và tường minh. Cuộn film thuộc mức tiềm ẩn vì hình ảnh được mã hóa trong các dạng giao thoa chứa trong film còn hình ảnh chiếu ra thuộc mức tường minh vì các giao thoa mã hóa được mở ra (unfolded). Theo David Bohm, sóng và hạt đều bị cuộn lại trong một thực thể lượng tử, chỉ có quá trình tương tác mới bộc lộ tường minh một khía cạnh nào đó, còn khía cạnh kia vẫn nằm tiềm ẩn. Vì danh từ toàn ảnh (holographic) có tính tĩnh tại (static) nên để mô tả những quá trình động (dynamic) cuộn lại và mở ra liên tục của thực tại nên David Bohm đưa ra danh từ toàn ảnh động (holomovement) Bohm quan niệm rằng mọi vật trong vũ trụ đều là những phần tử của một continuum . Bohm cho rằng phân biệt thế giới sống (living) và không sống (nonliving) là điều vô nghĩa. Vì mỗi phần của một bức toàn ảnh (hologram) đều chứa thông tin của toàn ảnh cho nên mỗi bộ phận của vũ trụ đều chứa thông tin của toàn vũ trụ. Điều đó có nghĩa là nếu biết cách tiếp cận thì chúng ta có thể tìm thấy thiên hà Tiên nữ (Andromeda) trong móng ngón tay bàn tay trái.

Đoạn video sau cho chúng ta một cái nhìn cụ thể hơn về việc electrons tạo ra thực tại vật chất của thế giới như thế nào.

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 2 – Phụ đề Việt ngữ

Trong video trên, cái món súp lượng tử mà nhà vật lý Nick Herbert nói khi không có ai nhìn, PG gọi là vô thủy vô minh, nó chỉ là một cấu trúc ảo không có thật nhưng vẫn có cấu trúc rõ ràng mà Heisenberg gọi là tiềm thể. Heisenberg, (1901-1976 nhà vật lý lý thuyết người Đức, người phát minh ra nguyên lý bất định _không thể đồng thời xác định vị trí và vận tốc hay động lượng của một hạt, ví dụ electron) nói: “Atoms and elementary chúng tôi a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật).

Đó cũng là tánh Không của PG. Nhưng khi người quan sát nhìn và đo đạc nó tức là khởi lên nhất niệm vô minh, thì món súp lượng tử đó biến thành vật chất, thành thân tứ đại, thành nhà cửa xe cộ…mà 6 giác quan của ông đều cảm thấy là rất thật. Chính vì vậy mà PG nói Tam giới duy tâm.

Craig Hogan thì nói rằng bản chất của vũ trụ là số (xem bài Vạn pháp duy thức có ý nghĩa gì ?) tức là vũ trụ mà chúng ta đang sống cũng là ảo, giống hệt như thế giới ảo của máy vi tính mà chúng ta đang vận dụng hàng ngày. Yếu tố quan trọng ở đây là thông tin : Từ kỹ thuật đến sinh học, vật lý, thông tin đóng vai trò quan trọng. Các protein không thể nào tổng hợp được nếu không có thông tin từ DNA. Nguyên lý toàn ảnh khẳng định rằng entropy của một khối lượng bình thường (không phải lỗ đen) cũng tỷ lệ với diện tích chứ không phải thể tích. Thể tích chỉ là ảo ảnh và vũ trụ thật sự là một hologram đẳng cấu (isomorphic) tức cấu tạo bằng những bit thông tin giống nhau, cùng một loại như nhau, cụ thể là 0 và 1, với thông tin được “ghi khắc” trên mặt biên.

Sau khi đã luận giải kỹ càng về Sắc (vật chất) có bản chất là ảo, là không, thì các thành phần còn lại của ngũ uẩn cũng có bản chất tương tự, điều đó là dễ hiểu nên không cần giải thích nhiều.

2/ 舍利子,色不異空、空不異色、色即是空、空即是色, 受想行識,亦復如是

XÁ LỢI TỬ ! SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC, SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ :

Vật chất không khác cái không, cái không không khác vật chất, vật chất tức là không, không tức là vật chất. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng tương tự như vậy.

Thọ (zh. 受, sa., pi. vedanā), tức là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.Cơ thể liên lạc tiếp xúc với bên ngoài bằng Lục căn. Đối tượng của lục căn là Lục trần. Lục căn tiếp xúc với Lục trần sinh ra Lục thức bao gồm các cảm giác của thân xác và ý thức, do bộ não tổng hợp điều phối.

Tưởng (zh. 想, sa. saṃjñā, pi. saññā), là hoạt động cao cấp của bộ não và ý thức, ngoài việc nhận biết các cảm giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị…, kể cả nhận biết ý thức cái ta đang hiện diện như Descartes đã tuyên bố (Je pense, donc je suis- tôi tư duy tức tôi hiện hữu). Tưởng còn đi xa hơn trong tư duy, lý luận, tư tưởng triết học, tôn giáo, khoa học, chính trị, xã hội, nhân văn, kinh tế…phân biệt, chọn lựa tốt xấu, đúng sai…

Hành (zh. 行, sa. saṃskāra, pi. saṅkhāra), là hành động, hoạt động, thể hiện ra trong đời sống, quyết định nên làm gì, không nên làm gì sau những hoạt động tâm lí tư tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác, đuổi theo đam mê, dục lạc hoặc phát tâm tu hành hoặc làm một việc lớn nào đó trong đời (chí hướng) chọn lựa, hướng nghiệp v.v… Đối với pháp trần thì hành là chuyển động, luôn luôn chuyển động không ngừng, như electron chuyển động chung quanh hạt nhân, mặt trời luôn tỏa ánh sáng và bức xạ vào không gian, trái đất luôn chuyển động chung quanh mặt trời và tự xoay theo trục của nó, thái dương hệ chuyển động trong dải ngân hà, các thiên hà chuyển động tách rời nhau ra…

Thức (zh. 識, sa. vijñāna, pi. viññāṇa), là tri thức, tri kiến, hiểu biết sau quá trình dài tích lũy kinh nghiệm, từ đó sinh ra chấp ngã (thấy cái ta là có thật), chấp pháp (coi vũ trụ vạn vật là có thật), thấy có thế giới hiện hữu, có vạn vật, có xã hội. Cái ý thức luôn duy trì bản ngã gọi là Mạt-na thức. Tất cả thông tin về bản ngã và tri kiến về thế giới, vũ trụ được chứa trong Tàng thức hay còn gọi là A-lại-da thức.

Đã hiểu rằng ngũ uẩn giai không thì ắt biết tất cả mọi sướng khổ, tai ách cũng chỉ là ảo tưởng chứ không phải thật, đó là sự giải thoát chắc chắn. Bản chất của vật chất là không, chỉ là áo hóa chứ không có tự tánh riêng biệt.

3/ 舍利子,是諸法空相,不生不滅、不垢不淨、不增不減。 是故空中無色、無受想行識、無眼耳鼻舌身意、無色聲香味觸法、 無眼界、乃至無意識界

XÁ LỢI TỬ! THỊ CHƯ PHÁP KHÔNG TƯỚNG, BẤT SANH BẤT DIỆT, BẤT CẤU BẤT TỊNH, BẤT TĂNG BẤT GIẢM, THỊ CỐ KHÔNG TRUNG VÔ SẮC, VÔ THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, VÔ NHÃN, NHĨ, TỶ, THIỆT, THÂN, Ý, VÔ SẮC THINH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP, VÔ NHÃN GIỚI NÃI CHÍ VÔ Ý THỨC GIỚI :

Này Xá Lợi Phất ! các pháp đều là hiển thị của tánh không : không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm; như vậy trong tánh không, không có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có thế giới của hình tướng, màu sắc (nhãn giới) cho đến không có thế giới của tư tưởng ý thức (ý thức giới).

Vật chất đã không có thật, bản chất của vạn pháp đã là không thì tất cả mọi hình tướng của vũ trụ vạn vật, nhân sinh cũng chỉ là ảo, không có thật.

4/ 無無明、亦無無明盡、乃至無老死、亦無老­死盡

VÔ VÔ MINH, DIỆC VÔ VÔ MINH TẬN, NÃI CHÍ VÔ LÃO TỬ, DIỆC VÔ LÃO TỬ TẬN :

Không có vô minh, cũng không có già chết nên cũng không có hết vô minh, hết già chết.

無苦集滅道 VÔ KHỒ, TẬP, DIỆT, ĐẠO :

Vì không có vô minh, không có già chết luân hồi sinh tử, nên cũng không có khổ, không có lý do hay nguyên nhân đau khổ, không có hết đau khổ, không con đường giải thoát : Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

無智亦無得、以無所得故。 菩提薩埵,依般若波羅蜜多故,心無罣礙; 無罣礙故, 無有恐怖

VÔ TRÍ DIỆC VÔ ĐẮC, DĨ VÔ SỞ ĐẮC CỐ , BỒ ĐỀ TÁT ĐỎA, Y BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA CỐ, TÂM VÔ QUÁI NGẠI, VÔ QUÁI NGẠI CỐ, VÔ HỮU KHỦNG BỐ :

Không có trí, cũng không có đắc, vì không có sở đắc, Bồ Tát nương vào tánh Không mà Tâm không có gì trở ngại, vì không có trở ngại nên cũng không có gì lo sợ.

Đó là thoát khỏi mọi ràng buộc của Không gian, Thời gian, Số lượng, Sự Sự vô ngại. Tính chất vô quải ngại thấy rõ trong câu chuyện có thật sau đây :

Đó là một ngày tháng 12-1986, chuyện xảy ra tại nhà của Hầu Hi Quý ở Bảo Tháp Sơn, thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam. Trong số cử tọa có một nhân viên ngân hàng đã thấy hết tất cả, cảm thấy công năng đặc dị quá thần diệu, bỗng nảy sinh một chủ ý. “Hầu thần tiên à, kho vàng của ngân hàng chúng tôi toàn là tiền, ông có thể biến lấy về, thế mới hay. Nhưng mà chỗ đó tường xi măng dày cả xích (khoảng 3 tấc tây- dm), phải qua vài cái cửa có vài ổ khóa, chỉ sợ không dễ dàng.” “Anh không tiếc mạng hả ? Tiền trong kho vàng, biến lấy ra được hay sao ? Tôi cho rằng nếu có lấy được cũng có vấn đề.” Hầu Hi Quý trừng mắt nhướng mày, xua xua bàn tay to lớn. Nhưng mọi người đâu có khẳng định như vậy, đó vừa là việc không thể làm được, nhưng họ lại vừa phát sinh ý muốn thấy Hầu Hi Quý hiển lộ công phu, bọn họ nhiều miệng cùng lời : mọi người ở đây làm chứng, biến lấy ra rồi biến trả về chỗ cũ, không động chạm tiền của quốc gia, Hầu Hi Quý đừng quá lo lắng. “Nếu cương quyết muốn tôi biến” Hầu Hi Quý trầm tư một chút, bắt đầu đi vào trong phòng, vừa đi vừa nói “vậy thì vào trong phòng biến.” Mọi người cùng nhau theo ông vào trong phòng. Chỉ thấy Hầu Hi Quý kéo chiếc khăn trải gối trên giường, đưa hai tay vào bên dưới chiếc khăn, ngưng thần trong chốc lát, phía dưới khăn trải gối bỗng phát ra tiếng “sột soạt”, Hầu Hi Quý dỡ chiếc khăn trải gối lên, để lộ ra một khối tiền nhân dân tệ, mỗi xấp là 100 tờ mệnh giá 10 nguyên, cộng chung là một vạn nguyên ! Mọi người quá đỗi kinh ngạc vì đây không phải là vấn đề nhỏ, người nhân viên công tác tại ngân hàng hoảng quá, tay chân lập cập, luôn miệng tự nói “phi thường… … thật là phi thường…” Hầu Hi Quý thấy mọi người hoảng loạn như thế, tằng hắng trong cổ họng, nghiêm túc nhận thức rằng “Đây là tiền của quốc gia, không thể để lâu, tôi phải đưa trở về.” Nói xong ông tự mình xếp tiền thành một chồng, mang ra ngoài bậc thềm, sau đó đứng thẳng người, miệng niệm chú, kế đó hét lên một tiếng “đi”, đống tiền nhân dân tệ trong sát-na bỗng biến mất…

Tiền để trong kho bạc ngân hàng, tường dày chắc chắn, nhiều lớp cửa, nhiều ổ khóa, nhưng Hầu Hi Quý không cần đi đến ngân hàng, cũng không cần mở cửa mà vẫn có thể di chuyển hàng đống tiền từ trong kho bạc nhà nước về nhà mình để biểu diễn cho mọi người thấy, rồi di chuyển trả về chỗ cũ chỉ bằng tâm niệm. Điều đó chứng tỏ tiền cũng chỉ là vật ảo, tường kho bạc cũng chỉ là vật ảo.

5/ 遠 離 顛倒 夢 想,究竟涅槃

VIỄN LY ĐIÊN ĐẢO MỘNG TƯỞNG CỨU CÁNH NIẾT BÀN :

Xa rời cả điên đảo mộng tưởng và cứu cánh niết bàn.

Điên đảo mộng tưởng còn gọi là thế lưu bố tưởng, tức là tưởng tượng của Tâm sinh diệt, tưởng tượng ra vũ trụ vạn vật, tưởng tượng ra các pháp mà vẫn cho rằng có thật, tưởng rằng đó là sự thật khách quan ở ngoài ý thức. Đó là sai lầm lớn, không phải chỉ có người bình thường mới phạm phải mà cả những nhà đại bác học, đại khoa học gia, đại triết học vẫn phạm phải. Cứu cánh niết bàn cũng không phải là cảnh giới ở đâu xa lạ, mà chính là cảnh thế gian nhưng tâm không còn chấp trước, không bị sinh tử luân hồi ràng buộc nữa, không còn bị ràng buộc của không gian, thời gian và số lượng. Niết bàn chính là Tâm giác ngộ, Tâm như hư không vô sở hữu. Chứ không phải cứu cánh Niết bàn là một cõi giới riêng biệt có những tính chất như thường, lạc, ngã, tịnh, mà phái Tiểu thừa còn bảo lưu. Tất cả mọi cảnh giới đều là vọng tưởng vì vậy hành giả cũng không được chấp vào cứu cánh Niết bàn, do đó mới nói viễn ly.

6/ 三世諸佛,依般若波羅蜜多故,得阿耨多羅三藐三菩提

TAM THẾ CHƯ PHẬT, Y BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA CỐ, ĐẮC A NẬU ĐA LA TAM MIỆU TAM BỒ ĐỀ :

Vì thời gian là không có thật, nên sự phân chia thời gian ra thành quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ là sự tuỳ tiện của con người, chứ sự thật không phải như vậy. Quá khứ, hiện tại, tương lai cùng xuất hiện đồng thời, chỉ tại tuyệt đại đa số mọi người không nhìn thấy đồng thời, do khả năng hạn chế nên mới diễn dịch thành 3 thời. Có những sự kiện gì chứng tỏ điều đó ?

Pháp sư Huệ Viễn (334-416) đời Đông Tấn là Sơ Tổ của Tịnh Độ Tông, ông là đồng đạo với Đạo An, nhỏ hơn 20 tuổi. Em trai của ông, Huệ Trì (337…) cũng là một pháp sư rất nổi tiếng. Huệ Trì tính tình đạm bạc điềm tĩnh, có chí hướng cao xa. Lúc 14 tuổi bắt đầu đọc Thi Thư, học một biết mười, giỏi về văn sử, tinh thông Kinh, Luật, Luận của Phật giáo. Đạo An ở Tương Dương đề nghị Huệ Viễn đi về phía đông hoằng pháp. Huệ Trì cùng đi với anh. Đến Lư Sơn, hai anh em ở chung. Huệ Trì thân cao 8 xích , phong thái tuấn tú, thường mang giày cỏ, áo nạp phủ quá đầu gối. Số người theo học Phật pháp tại Lư Sơn có hơn 3000 người, không ai tuấn tú mẫn tiệp hơn Huệ Trì.

Sau Huệ Trì nghe nói ở Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên đất đai màu mỡ, nhân dân giàu có, muốn đến đó truyền pháp và xem phong cảnh núi Nga Mi. Năm Long An thứ ba đời Đông Tấn (công nguyên 399 CN), ông từ biệt Huệ Viễn đi Tứ Xuyên. Huệ Viễn khuyên em ở lại hết lời mà không được, bèn than rằng “Người đời đều thích đoàn tụ, riêng mình em thích phân ly, vì sao vậy ?” Ông đáp : “Nếu là người vướng mắc ở tình cảm, thích đoàn tụ thì không nên xuất gia. Hiện tại chúng ta đã cát ái xả dục mà cầu đạo thì chỉ nên kỳ vọng gặp nhau ở Tây phương cực lạc” Thế rồi anh em chia tay. Huệ Trì lên đường đi Tứ Xuyên một mình, từ đó không ai còn biết tung tích của ông. Kể từ lúc ông lên đường đi Tứ Xuyên vào năm 399 CN đến lúc người ta phát hiện ra ông trong bọng cây là năm 1113 CN, tức đã trải qua 714 năm. Câu chuyện như sau :

Bộ Sách Gia Thái Phổ Đăng Lục do Chính Thọ (Vân Môn tông) viết vào đời Nam Tống, quyển 22 có ghi lại một câu chuyện sau : Năm Chính Hòa thứ ba đời Tống Huy Tông (công nguyên 1113), tại Gia Châu Tứ Xuyên (nay là huyện Lạc Sơn nơi có tượng Phật điêu khắc vào vách núi đá cao nhất thế giới) quan địa phương có biểu tâu lên triều đình : Có cây cổ thụ bị gió thổi gãy, bên trong có một lão tăng đang nhập định, râu tóc che phủ thân thể, móng tay dài bao quanh người. Hoàng đế giáng chỉ dùng cáng khiêng lão tăng đó đưa về kinh đô (thời đó là Biện Kinh, kinh đô của nhà Bắc Tống, nay là thành phố Khai Phong tỉnh Hà Nam). Do vị sư người Tây Thiên (Ấn Độ) là Tổng Trì Tam Tạng dùng chiếc khánh đồng đánh lên để làm cho lão tăng xuất định, mới biết đó là em trai của pháp sư Huệ Viễn ở Lư Sơn, tên là Huệ Trì, nhân đi du lãm núi Nga Mi, ngồi nhập định trong bọng cây. Hoàng đế ra lệnh cho họa sĩ vẽ hình của lão tăng, và tự mình làm ba bài kệ.

Bộ Gia Thái Phổ Đăng Lục in vào năm Gia Thái thứ hai đời Nam Tống (CN 1202) cách lúc xảy ra sự việc trên (CN1113) chỉ có 89 năm, sự việc còn có thể khảo cứu và đáng tin cậy. Mặt khác 5 Bộ sách mà Bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên gom lại đều là Thiền sử, ghi chép những sự việc có thật, người thật, việc thật. Ngoài ra ba bài kệ của Tống Huy Tông vẫn còn là chứng tích.

Phật giáo Trung Hoa có ghi nhận một vị sư ngừơi Ấn Độ, Ngài Trí Dược Tam Tạng 智葯三藏đã đến Quảng Châu Trung Quốc bằng đường biển vào năm 502 đời Nam Bắc Triều (Quảng Châu thuộc Nam Triều 420-589), ban đầu ông đến chùa Pháp Tánh 法性寺 (chùa này do một vị tăng Ấn Độ khác là Cầu Na Bạt Đà La (Gunabhadra) đến Quảng Châu năm 435, xây dựng trong thời Lưu Tống) trên đường đến Ngũ Đài Sơn, ông đi qua suối Tào Khê, thấy nước suối rất trong lành, ngon ngọt, phong cảnh giống núi Bảo Lâm bên Thiên Trúc, ông bảo đệ tử rằng “170 năm sau khi tôi tịch diệt sẽ có một vị đại thánh tăng đến đây hoằng pháp, khai ngộ cho rất nhiều người”, thế nên ông đã đề nghị quan Thiều Châu Mục là Hầu Kính Trung xây dựng chùa. Hầu Kính Trung tâu lên Lương Võ Đế và được sắc chỉ cho phép xây dựng, năm 504 hoàn thành, Lương Võ Đế theo lời tâu, đặt tên chùa là Bảo Lâm Tự 宝林寺 (nay là chùa Nam Hoa cách Thiều Quan 25 km về phía đông nam, tên Nam Hoa Thiền Tự 南华禅寺 do Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận 趙匡胤 đặt sau khi đã trùng tu vào năm Khai Bảo nguyên niên 968).

Bảo Lâm Tự, Ngài Trí Dược Tam Tạng tại Thiều Châu tỉnh Quảng Đông

Thời hiện đại cũng có bằng chứng. Trong thời gian diễn ra Giải Bóng đá Vô địch Thế giới (World Cup) 2010 tại Nam Phi. Chú bạch tuộc Paul đã làm cả thế giới kinh ngạc khi đã dự đoán trước, chính xác 100% kết quả của cả 8 trận đấu, trong đó 7 trận có đội tuyển Đức thi đấu, và trận cuối cùng là trận chung kết giữa hai đội tuyển Hà Lan và Tây Ban Nha. Paul đã dự đoán Tây Ban Nha thắng và kết quả diễn ra đúng như vậy, Tây Ban Nha đã đoạt cúp vô địch. Đối với nhận thức thông thường thì trận đấu Tây Ban Nha -Hà Lan chưa diễn ra, nhưng trong trí bát nhã thì trận đấu đó đã có rồi, kết quả đã an bài rồi, vấn đề chỉ là làm sao thấy được kết quả đó, các Bồ Tát có thần thông thì thấy được kết quả đó, tức thấy được vị lai chứ không phải đoán mò. Chính vì vậy mà Trí Dược Tam Tạng thấy được việc của 170 năm sau. Hay nói cách khác vị lai, hiện tại và quá khứ là đồng thời và đều không có thật, thời gian không gian số lượng đều không có thật.

Quốc kỳ Tây Ban Nha

Quốc kỳ Hà Lan

Bạch tuộc Paul đã chọn Tây Ban Nha là đội chiến thắng, cuộc chọn lựa diễn ra vào ngày 9-7-2010, hai ngày trước khi trận chung kết Hà Lan -Tây Ban Nha diễn ra vào ngày 11-7-2010 với kết quả 1-0 nghiêng về đội Tây Ban Nha.

Tại sao có những chuyện kỳ dị lạ thường như thế ? Chính vì bản chất của thời gian là không có thật, quá khứ, hiện tại, vị lai, chỉ là sự phân biệt của tâm thức con người, chứ không phải có một không gian và thời gian tồn tại độc lập khách quan như Newton hay Einstein quan niệm. Các vị Bồ Tát có huệ nhãn hay linh vật như bạch tuộc Paul có thể nhận ra những sự kiện mà người đời cho là chưa xảy ra.

7/ 故知般若波羅蜜多,是大神咒、是大明咒、是無上咒、是無等等咒; 能除一切苦,真實不虛。

CỐ TRI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA, THỊ ĐẠI THẦN CHÚ, THỊ ĐẠI MINH CHÚ, THỊ VÔ THƯỢNG CHÚ, THỊ VÔ ĐẲNG ĐẲNG CHÚ, NĂNG TRỪ NHẤT THIẾT KHỒ. CHÂN THẬT BẤT HƯ :

Như vậy phải hiểu rằng trí bát nhã tức tánh không là tất cả các loại thần chú kỳ diệu, cao cấp nhất, có khả năng dứt trừ tất cả mọi khổ nạn, đó là điều chân thật.

Đó là điều đương nhiên, cái ta không thật, thế giới không thật thì mọi khổ nạn, tai ách cũng chỉ là ảo, là chiêm bao mà thôi.

8/ 故說般若波羅蜜多咒,即說咒曰: 揭諦揭諦 波羅揭諦 波羅僧揭諦 菩提薩婆訶

CỐ THUYẾT BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA CHÚ, TỨC THUYẾT CHÚ VIẾT: YẾT ĐẾ, YẾT ĐẾ, BA LA YẾT ĐẾ, BA LA TĂNG YẾT ĐẾ, BỒ ĐỀ TÁT BÀ HA.

Như vậy nói về chú Bát Nhã Ba La Mật Đa cũng tức là nói lời chú : ( gate gate paragate parasamgate bodhi svaha! (Vượt qua, vượt qua, vượt qua bên kia, hoàn toàn vượt qua, đến bờ giác ngộ) chỉ phiên âm tiếng Phạn)

Ý nghĩa của Bát Nhã Tâm Kinh là rất rõ ràng và đúng như thật, nhưng sự thật đó không thể nghĩ bàn, rất khó hội nhập vì tuyệt đại đa số chúng sinh đã quá quen thuộc với sự mê lầm chấp thật, không dễ gì trong một đời một kiếp mà từ bỏ được thói quen tai hại đó, do đó phải kiên trì giữ giới tu hành bỏ dần tập khí (thói quen) lần theo tiến trình giới, định, huệ để đến bờ giác ngộ.

Truyền Bình

Ý Nghĩa Bát Nhã Tâm Kinh Cao Thâm Vi Diệu

Bát Nhã Tâm Kinh (tiếng Anh: Heart Sutra – tiếng Phạn: Prajnaparamitahrdaya Sutra) hay còn được biết với tên gọi Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Là một văn bản nổi tiếng nhất của Đạo Phật Đại Thừa, được coi là sự chưng cất tinh khiết của trí tuệ (prajna). Bát Nhã Tâm Kinh cũng là một trong số những kinh điển ngắn nhất nhưng vô cùng quan trọng trong Phật giáo.

Nguồn gốc

Bát Nhã Tâm Kinh là một phần quan trọng của Đại Bát Nhã, bộ sưu tập khoảng 40 kinh điển Phật giáo từ năm 100 TCN đến 500 SCN. Nguồn gốc chính xác của Tâm Kinh vẫn còn là một dấu hỏi. Theo Red Pine, bản ghi sớm nhất là một bản dịch tiếng Trung từ Phạn ngữ do nhà sư Chih-ch’ien dịch vào khoảng thế kỷ thế 2 SCN.

Vào thế kỷ thứ 8, bản dịch xuất hiện thêm một bài giới thiệu và kết luận. Phiên bản dài hơn này được chấp nhận bởi Phật giáo Tây Tạng. Tuy nhiên, Trong Thiền Tông và các trường phái Đại Thừa khác có nguồn gốc ở Trung Quốc, phiên bản ngắn thì phổ biến hơn.

Mở rộng định dạng mới này đến giới hạn hợp lý của nó, trường phái Mật tông Phật giáo (Phật giáo Kim Cương Thừa), phát triển phiên bản ngắn nhất trong tất cả văn bản Bát Nhã Tâm Kinh, một tác phẩm có tên “Sự hoàn hảo của trí tuệ”.

Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật (Diamond Sutra) là một phiên bản khác của Bát Nhã Tâm Kinh, nó được lưu truyền rộng rãi ở vùng Đông Á và được biết với tên gọi ngắn hơn là Kinh Kim Cang hay Kinh Kim Cương.

Không có nghi ngờ gì về Bát Nhã Tâm Kinh, một kinh điển được sử dụng nhiều nhất trong hầu hết truyền thống Phật giáo Đại Thừa, phát triển ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Tây Tạng, Mông Cổ, Bhutan, Trung Quốc, một phần của Ấn Độ và Nepal. Gần đây, nó cũng phát triển ở Châu Mỹ và Châu Âu.

Nhiều người đã nói nhiều điều khác nhau về Bát Nhã Tâm Kinh, nó là gì, có phải nó là trái tim của sự khôn ngoan, một tuyên bố về sự thật là như thế nào, giáo huấn chính của Đại Thừa, sự cô đặc tinh tuý của tất cả các kinh điển Phật giáo, hoặc một lời giải thích của Tánh Không!

Bản tụng Hán-Việt và dịch nghĩa của Bát Nhã Tâm Kinh

Nhà sư Tây Tạng tụng Bát Nhã Tâm Kinh rất hay! Bản tụng Hán-Việt

Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách. Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.

Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức.

Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận.

Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.

Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề. Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

Bản dịch nghĩa

Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn. Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.

Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.

Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết. Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.

Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn. Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.

Cho nên phải biết rằng Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối. Cho nên khi nói đến Bát nhã Ba la mật đa, tức là phải nói câu chú:

Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha có nghĩa là (Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó!).

Ý nghĩa của Bát Nhã Tâm Kinh

Tất cả chúng sinh, do đức tính trống rỗng của họ, đã được giải phóng và thuần khiết. Như trong Bát Nhã Tâm Kinh đã nói, khổ đau trống rỗng và sự giải thoát khỏi đau khổ cũng trống rỗng.

Lòng từ bi tuyệt đối làm cho chúng ta có thể duy trì việc hỗ trợ và giúp đỡ chúng sinh đến vô tận mà không suy nghĩ gì. Lòng từ bi tương đối dựa trên quan điểm rộng lớn của chúng ta về bản chất trống rỗng của cuộc sống, trong mối liên hệ giữa trái tim và sự tham gia. Bản thân xem việc đó cũng là điều không thể, nhưng cả hai cùng nhau tạo ra một cuộc sống kết nối tuyệt vời và bền vững.

Bát Nhã Tâm Kinh truyền đạt bản chất của trái tim, của cái được gọi là “Sự hoàn hảo của trí tuệ hay cái nhìn sâu sắc”. Chính nó, nó không phức tạp, nó không cung cấp cho chúng ta tất cả các chi tiết.

Nó giống như một bản ghi nhớ ngắn gọn để suy ngẫm tất cả các yếu tố trong cuộc sống tâm linh của chúng ta, từ quan điểm của những gì chúng ta đang có bây giờ, điều chúng ta trở nên khi chúng ta tiến lên con đường giác ngộ và những gì chúng ta đạt được (hoặc không đạt được) khi kết thúc con đường đó.

Nếu chúng ta muốn hiểu tất cả các chi tiết, chúng ta phải đọc bộ Đại Bát Nhã chiếm khoảng 21.000 trang trong kinh điển Phật giáo Đại Thừa, một trăm nghìn dòng trong mười hai quyển sách lớn. Nhưng ý nghĩa cao thâm vi diệu của Bát Nhã Tâm Kinh đều được cô đọng lại trong bản kinh ngắn với 260 chữ:

Bốn khía cạnh khác của cuộc sống con người – cảm giác, suy nghĩ, ý chí và ý thức – cũng không khác gì tánh không.

Vì vậy, trong tánh không, không có cơ thể, không có cảm giác, không có ý nghĩ, không có ý chí, không có ý thức. Không có mắt, không có tai, không mũi, không có lưỡi, không có cơ thể, không có tâm. Không có cái nhìn, không nghe, không ngửi, không nếm, không đụng, không tưởng tượng. Không có gì nhìn thấy, cũng không nghe, không ngửi, không nếm, không chạm vào, và không tưởng tượng.

Không có vô minh, và không có kết thúc vô minh.Không có tuổi già và cái chết, không chấm dứt tuổi già và cái chết. Không có đau khổ, không có khổ đau, không có khổ đau, không có con đường để đi theo. Không đạt được trí tuệ, và không có sự khôn ngoan để đạt được.

Tất cả chư Phật, quá khứ, hiện tại và tương lai, đều dựa vào Tâm Kinh và sống trong sự giác ngộ trọn vẹn.

Các Tăng Ni Làng Mai tụng Bát Nhã Tâm Kinh vô cùng tuyệt vời!

Sự hoàn hảo của trí tuệ hay còn gọi là trí tuệ Bát Nhã

Như với hầu hết các kinh điển Phật giáo, nếu chỉ đơn giản là “tin tưởng vào” những gì mà Bát Nhã Tâm Kinh nói không phải là quan điểm đúng đắn. Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, chúng ta cũng không thể hiểu sâu sắc nội hàm của kinh điển nếu chỉ dựa vào sự hiểu biết giới hạn ở hiện tại.

Mặc dù phân tích là hữu ích, mọi người vẫn giữ những lời trong trái tim của họ để sự hiểu biết mở ra thông qua thực hành cá nhân.

Shariputra, hình thức không khác gì tánh không, sự trống rỗng không khác gì hình thức. Sắc là sự trống rỗng hoàn toàn, sự trống rỗng chính xác. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng giống như vậy.

Ý tưởng trọng tâm của trí tuệ Bát Nhã là giải phóng hoàn toàn khỏi thế giới của sự tồn tại. Nó vượt xa những lời dạy của Phật giáo trước đó, chỉ tập trung vào sự trỗi dậy và sụp đổ của các hiện tượng để khẳng định rằng không có sự gia tăng và sụp đổ.

Trí tuệ Bát Nhã nói rằng, không có sự đa dạng, tất cả chỉ là một, thậm chí sự tồn tại của vòng luân hồi và niết bàn cũng là điều cơ bản.

Trong bối cảnh của sự trống rỗng, trí tuệ Bát Nhã đưa ra như một cách để khai ngộ. Nó tượng trưng cho sự giới thiệu chính thức về tư duy Phật giáo của một lý tưởng thực tiễn – lý tưởng của một vị Bồ tát, không giống như một vị A-la-hán, những chúng sinh đạt được giác ngộ nhưng không thể sử dụng phương tiện giác ngộ để giúp cho người khác.

Bồ tát phải thực hành sáu hoàn thiện: Bố thí, trì giới, kiên nhẫn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Sự khôn ngoan là điều quan trọng nhất bởi vì nó xua tan bóng tối của ảo tưởng cảm giác và cho phép mọi thứ được nhìn thấy như chúng thực sự là như vậy.

Giống như các ngôi sao, giống như một ảo ảnh quang học, giống như một bóng đèn, giống như một ảo giác huyền bí, những giọt nước mắt, hoặc một bong bóng, giống như một giấc mơ, một tia sét hay một đám mây, vậy nên tất cả những gì được tạo ra sẽ được nhìn thấy.

Các ngôi sao không thể nắm bắt được. Những điều nhìn thấy với tầm nhìn bị lỗi không thực sự tồn tại. Đèn chỉ đốt cháy miễn là chúng có nhiên liệu. Một cuộc trình diễn giả dối là một ảo ảnh huyền diệu, nó không phải là nó có vẻ như. Các giọt sương bay nhanh trong nhiệt của mặt trời.

Bong bóng có dòng đời ngắn và không có bản chất thực sự cho chúng. Giấc mơ là không thật, mặc dù có vẻ như vậy vào thời điểm đó. Sét ngắn và nhanh hơn. Mây luôn thay đổi hình dạng. Bằng cách nhận ra bản chất tạm thời của vạn vật, chúng ta dễ dàng tách ra khỏi chúng và đạt được Niết bàn.

Nhạc Bát Nhã Tâm Kinh do nữ ca sĩ Imee Ooi thể hiện rất truyền cảm.

Khái niệm “Tánh không” trong Bát Nhã Tâm Kinh

Tánh không (tiếng Phạn: shunyata) là một học thuyết nền tảng của Phật giáo Đại Thừa. Nó cũng có thể là học thuyết bị hiểu nhầm nhất trong Phật giáo. Thông thường, người ta cho rằng nó có nghĩa là không có gì tồn tại. Nhưng đây không phải là một cách giải thích đúng đắn.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 nói: “Sự vật và sự kiện không có bản chất nội tại và không có nhận dạng cá nhân ngoại trừ trong suy nghĩ của chúng ta.”

Các Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng dạy rằng “sự tồn tại chỉ có thể được hiểu theo nghĩa Duyên khởi.” Duyên khởi là một giáo huấn nói về mối tương quan giữa vạn vật và không có hữu thể hay vật gì tồn tại độc lập với các sinh mệnh khác.

Trong Tứ Diệu Đế, đức Phật đã dạy, những đau khổ của chúng ta nảy sinh từ việc nghĩ rằng chúng ta là những người hiện hữu độc lập với một “cái tôi” nội tại. Nhận thức một cách triệt để bản chất nội tại này là ảo tưởng và giải phóng chúng ta khỏi đau khổ.

Sắc Tức Thị Không – Không Tức Thị Sắc

Câu nói này có nghĩa là gì? Sắc ở đây được hiểu là vật chất hay hình tướng, những gì chúng ta cảm nhận được thông qua 5 giác quan. Không có nghĩa là chơn không hay vô tướng. Chúng ta phải biết khi nào “sắc” khi nào “không” để có thể giải thoát khỏi khổ đau trong cuộc sống.

Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Bồ tát giải thích rằng, tất cả các hiện tượng đều là những biểu hiện của Tánh không, trống rỗng với những đặc tính vốn có. Bởi vì các hiện tượng không có các đặc tính vốn có, chúng không sinh ra cũng không bị phá hủy, không tinh khiết, không ô uế, không đến hay đi.

“Không có điểm mà đôi mắt bắt đầu hoặc kết thúc, theo thời gian hoặc trong không gian hoặc theo khái niệm. Mắt được nối với xương mặt, và xương mặt được nối với xương đầu, và xương đầu được nối với xương cổ, và do đó nó đi xuống đến xương ngón chân, xương sàn, xương trái đất, xương giun, xương bướm mơ màng. Do đó, cái mà chúng ta gọi là mắt là một tập hợp rất nhiều bong bóng trong biển bọt.”

Bồ tát nói ở đây là gì? vì tất cả các hiện tượng không tồn tại độc lập với các hiện tượng khác, tất cả những khác biệt chúng ta tạo ra là tùy tiện.

Đeo nhẫn Bát Nhã Tâm Kinh có thật sự mang lại may mắn và bình an?

Hiện nay trên thị trường mua bán vật phẩm tâm linh và phong thủy xuất hiện rất nhiều sản phẩm như nhẫn, vòng tay hay mặt dây chuyền có khắc chữ “Bát Nhã Tâm Kinh”. Một người cho rằng đeo những trang sức tâm linh này sẽ được “Bát Nhã Tâm Kinh” gia hộ, từ đó tai qua nạn khỏi, thu hút tài lộc và gặp nhiều may mắn bình an trong cuộc sống.

Tôi nghĩ đây là một hình thức kinh doanh lợi dụng lòng tin của Phật tử vì nhiều người không thật sự hiểu rõ thông điệp mà Tâm kinh nhắn gửi. Đeo vật phẩm tôn giáo như vòng tay hay nhẫn Bát Nhã Tâm Kinh không phải là điều xấu, nó chăng qua chỉ là một món trang sức đẹp. Nhưng đối với một số đeo trang sức có khắc chữ “Bát Nhã Tâm Kinh” với mục đích mong cầu tài lộc hay may mắn là trái với đạo lý nhà Phật.

Như đã đọc ở trên, Bát Nhã Tâm Kinh giúp khai mở tâm trí hướng con người đến gần hơn với sự giác ngộ khi nhận ra tính vô thường, vô ngã và tính tương quan của các sự vật hiện tượng.

Điều này có nghĩa là gì? Đó là chúng ta phải thực hành theo lời Phật dạy, sống từ bi hơn, vui vẻ hơn và chan hòa với mọi người, vì mỗi người trong chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau ở một mức độ nào đó. Khi làm được điều này, may mắn và bình an sẽ tự nhiên đến với chúng ta mà không cần bất kỳ vật phẩm phong thủy tâm linh nào.

Vì vậy, nếu bạn là một Phật tử thuần thành thì không nên mong cầu may mắn, tài lộc từ những trang sức vô tri vô giác mà hãy thực tập theo lời dạy của Tâm kinh để hạnh phúc phát triển từ bên trong.

Tóm lại, Bát Nhã Tâm Kinh là cái nhìn sâu sắc giúp chúng ta vượt qua tất cả các cặp đối lập, chẳng hạn như sinh-tử, bản ngã và vô ngã, hạnh phúc và khổ đau, giàu và nghèo…Tất cả các hiện tượng đều là sản phẩm của sự phát sinh phụ thuộc, đó là thông điệp mà Tâm Kinh muốn nhắn gửi.

Biên dịch Hoa Sen Phật, chúng tôi

Ý Nghĩa Thâm Diệu Và Công Đức Của Bát Nhã Tâm Kinh

Người Phật tử còn đang tại thế nghĩa là còn đang sống với đời không thể nào tách rời cuộc sống với việc tu hành để đạt thành đạo quả, nghĩa là phải kết hợp hòa nhuyễn đạo và đời như Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nói trong Cư trần lạc đạo phú

Bát Nhã Tâm Kinh: Tương quan giữa Uẩn và Không

1. Công đức của Bát Nhã Tâm Kinh:

Tiếp theo là câu : Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Nghĩa là : Cho nên biết Bát nhã Ba la mật đa là thần chú lớn, là minh chú lớn, là chú vô thượng, là chú không gì sánh bằng, nên trừ được tất cả khổ ách, chân thật không hư dối.

là dịch chữ mantra trong tiếng Phạn, ta gọi là mạn trà. Theo nghĩa hẹp, mantra là những lời cầu đảo, nghĩa rất bí hiểm khi đọc lên, có tác dụng biến hóa ra các hiện tượng thiên nhiên, cả lành lẫn dữ. Theo nghĩa rộng, và đích thực của nó, mạntra là cái làm cho ta suy nghĩ, có công năng nắm giữ tóm thâu mọi nghĩa lý, làm tiền đề cho việc tham khảo của ta, từ đó, đẻ ra mọi công đức, mọi diệu dụng. Trong nghĩa này, mạntra thuộc một trong bốn thứ đà la ni, tức: pháp đà la ni, nghĩa đà la ni, nhân đà la ni và chú đà la ni. Chữ chú trong bài kinh này thuộc loại chú đà la ni. Đà la ni là chữ tiếng Phạn là dhàrani, dịch ra là Tổng trì, nghĩa là cái sức giữ gìn không để cho cái thiện pháp bị tán loạn, ngăn che không cho các ác pháp nảy sinh.

Ðại thần chú nghĩa là chú thần lớn, tức có thần lực vĩ đại, có thể chuyển dời, thay đổi mọi việc. Phép tu quán chiếu Bát nhã khêu sáng trí tuệ, Do đó, mà sinh tử trở thành Niết bàn, phiền não chuyển thành Bồ đề, nên nói là đại thần chú. Thần chú trí tuệ ấy chiếu phá vô minh, trừ dứt phiền não nên nói là đại minh chú, nghĩa là chú cực kỳ sáng chói. Cũng nhờ trí tuệ ấy mà chứng được Vô thượng Niết bàn nên nói là vô thượng chú, nghĩa là chú không có gì cao hơn nữa. Lại cũng nhờ trí tuệ ấy mà chứng được vô thượng bồ đề, nên nói là vô đẳng đẳng chú, nghĩa là chú không có gì sánh bằng.

Vì phép tu quán chiếu Bát nhã có công đức to lớn như thế, so với công đức của chú Ðà la ni, hai bên ngang nhau. Vì thế nên đức Phật đã tán thán và tôn xưng phép tu ấy như là thần chú. Và vì có công đức như thế, cho nên trừ được tất cả thống khổ ách nạn. Cũng vì công đức ấy là công đức quả có trên hiện thực, cho nên khẳng định lại một lần nữa rằng nó là chân thật, vì chẳng phải là dối, chẳng phải là hư dối, là lừa gạt.

2. Ý nghĩa thâm diệu của Bát Nhã Tâm Kinh

Câu tiếp theo và cuối cùng của Bát nhã Tâm kinh là : Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề Tát bà ha. Dịch nghĩa là : Vì vậy nói ra bài chú Bát nhã Ba la mật đa liền nói chú rằng: Yết đế, Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú nghĩa là cho nên nói chú Bát Nhã Ba la mật đa, điều ấy cho ta hiểu rằng phép quán chiếu Bát nhã có công đức sánh ngang với công đức của chú đà la ni, tất nhiên tác dụng vi diệu của phép tu này cũng không thể nghĩ bàn được, Cho nên, cần thực hành lời chú Bát nhã Ba la mật đa.

Tức thuyết chú viết , nghĩa đen là liền nói chú rằng. Nhưng để diễn đạt cái tác dụng linh ứng không thể nghĩ bàn ấy, tưởng nên dịch câu ấy là: chú liền ứng rằng thì mới lộ hết ý sâu xa tàng ẩn trong đoạn này, có hô thì lập tức có ứng. Và có như thế mới gọi là linh, là huyền diệu.

Chú vốn là mật ngữ (lời bí mật). Ðã là bí mật, làm sao cắt nghĩa? Tuy nhiên, dựa vào sự cấu tạo, có thể suy đoán một cách thô sơ nghĩa của một số chữ. Chẳng hạn như với câu chú này, nghĩa của nó không đến nỗi khó khăn lắm.

tiếng Hán dịch nghĩa là độ, chữ Phạn vốn đọc là gate, có nghĩa là đi qua, vượt qua. Yết đế lặp lại hai lần có nghĩa là độ cho mình và độ cho người. Ba la yết đế, do chữ p, có nghĩa là đi qua bờ bên kia. Ba la tăng yết đế, là do phiên âm chữ p, nghĩa là đi qua bờ bên kia hoàn toàn. Bồ đề là giác ngộ. Tát bà ha do phiên âm chữ sv có nghĩa là Ngài khéo nói. Toàn bộ câu đó tiếng Phạm đọc như sau Gate Gate Pàragate Pàrasamgate Bodhi Svaha. Như vậy, ý nghĩa của toàn câu chú có thể tạm dịch như sau :

Hãy vượt qua, vượt qua đi, qua bờ bên kia đi, qua bờ bên kia hoàn toàn thì sẽ đạt đến giác ngộ. Ngài khéo nói như vậy.

Đã là Phật tử thì ít nhất cũng biết đến một số kinh chú thường tụng hàng ngày nằm trong cuốn Kinh Chú Nhật tụng, trong đó có ghi các bản kinh như Kinh A Di Đà, kinh Phổ Môn, Kinh Tám Điều, Kinh Bát Nhã, Dinh Kược Sư, Kinh Sám nguyện, Kinh Vu Lan, Kinh Địa tạng v.v…tất cả các bản kinh nhật tụng đó, trước khi tụng phần sám hối hay hồi hướng đều có tụng Bát Nhã Tâm Kinh rồi sau đó có tụng đến chú vãng sinh. Vì sao như vậy ? Vì Đức Phật muốn cho các Phật tử hiểu được con đường tu hành đi đến giải thoát, giác ngộ phải vượt qua nhiều chướng ngại cần phải tụng Bát Nhã Tâm kinh để Hãy vượt qua, vượt qua đi, qua bờ bên kia đi, qua bờ bên kia hoàn toàn đi thì sẽ đạt đến giác ngộ

Có tụng Bát Nhã Tâm Kinh mới mở lối cho ta sám hối những ác nghiệp trước kia và mới có đủ duyên để hồi hướng về chư Thiện Thánh hiền, Già lam Hộ pháp, Long thiên và cho mọi chúng sinh trong tất cả các cõi.

Đối với những người tu theo Pháp Tịnh độ, tức là môn pháp đơn giản nhất và phù hợp với mọi căn cơ của nhiều người, thì thường chuyên về niệm Phật. Các đạo tràng A Di Đà tu theo pháp môn Tịnh độ, thông thường với một khóa công phu tu hành niệm Phật chỉ tụng các nghi thức Kệ tán Phật, Quán tưởng, Lễ Phật rồi niệm Phật, sám hối, hồi hướng, 12 lời nguyện, rồi Tam tự quy là kết thúc. Thiết nghĩ, trong nghi thức này nên có thêm phần tụng Bát Nhã Tâm Kinh và chú Vãng sinh thì đầy đủ hơn, sẽ đạt hiệu quả hơn trên đường tu chứng để đi đến ước nguyện vãng sinh như đã phân tích ở trên.

Tất nhiên là với điều kiện niệm Phật phải đủ tín, nguyện, hạnh, phải chí thiết, chí thành, nhất tâm bất loan. Niệm Phật trong công phu này phải đạt đến mức độ tâm niệm như bất niệm, đúng theo như pháp bất nhị và tính không trong Bát nhã Tâm kinh thì mới đạt được đạo quả. Còn niệm mà đầu óc còn vọng tưởng, suy nghĩ miên man, thì ngược lại với ý nghĩa giáo lý của Đại thừa nói trong Bát Nhã Tâm Kinh, mà mọi tông phái nào kể cả Thiền tông, Tịnh độ tông hay Mật tông cũng đều phải nhắc đến. Tất nhiên bất cứ mọi pháp tu nào cũng phải đạt đến tâm rỗng lặng, đến tâm không, đến vô ngã và thực sự làm thay đổi con ngưởi tu hành.

Trước khi đạt được đến độ có trí tuệ siêu việt để bước sang bờ bên kia, giải thoát và giác ngộ tức thực hiện được Bát nhã Ba la mật đa thì tất nhiên người Phật tử phải đạt được đến sự thay đổi trí tuệ và đạo đức, tính tình, thay đổi cái tâm, phải hiểu rõ lý nhân duyên, luật nhân quả, biết được thân người là hiếm quý, cuộc đời là vô thường, hiểu rõ những khổ đau trong luân hồi, thực hành được mười điều lành tức thập thiện thể hiện trong cuộc sống thường ngày trong đời thường.

Người Phật tử còn đang tại thế nghĩa là còn đang sống với đời không thể nào tách rời cuộc sống với việc tu hành để đạt thành đạo quả, nghĩa là phải kết hợp hòa nhuyễn đạo và đời như Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nói trong Cư trần lạc đạo phú và như Đức Thế tôn đã dậy Phật pháp bất ly thế gian pháp..

Phạm Đình Nhân

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

TÂM KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

(Prajna paramita heart sutra)

Chân thành tán thán ghi nhận công đức các vị: Trí Siêu, Nguyên Chứng, nguyên Giác và Nguyên Thanh, những vị đã đóng góp tích cực cho tập sách, bằng sự sưu tầm, sao chép, bổ túc các tư liệu văn bản, cùng là tham gia ý kiến về một số chi tiết khác nhau giữa các văn bản. Nguyện hồi hướng công đức này đến khắp Pháp giới chúng sanh đồng triêm lợi lạc.

HT THÍCH TRÍ THỦ

LỜI GIỚI THIỆU

Già Lam, mùa An cư H.T. THÍCH TRÍ THỦ TÂM KINH BÁT NHÃ PHIÊN ÂM

Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố vô hữu khủng-bố; viễn ly điên-đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết-bàn, Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết: Yết-đế Yết-đế, Ba-la yết-đế, Ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề. Tát bà ha. ( Gate, Gate, Paragate, Parasamgate, Boddhi Svaha)

TÂM KINH BÁT NHÃ DỊCH NGHĨA

Bồ tát Quán tự tại khi hành Bát nhã ba la mật đa sâu xa soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua mọi khổ ách. Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Xá Lợi Tử! Tướng không các pháp đây, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên, trong không, không sắc, không thọ, tưởng, hành, thức; không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn giới cho đến không ý thức giới; không vô minh cũng không vô minh hết; cho đến không già chết, cũng không già chết hết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí cũng không đắc. Bởi không sở đắc, Bồ tát nương Bát nhã ba la mật đa, nên tâm không mắc ngại; vì không mắc ngại nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo niết bàn. Chư Phật ba đời nương Bát nhã ba la mật đa nên chứng a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nên biết Bát nhã ba la mật đa là chú thần lớn, là chú minh lớn, là chú vô thượng, là chú không gì sánh bằng, trừ hết mọi khổ ách, chắc thật vì không dối. Nên nói chú Bát nhã ba la mật đa, nên nói chú rằng: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha. ( Gate, Gate, Paragate, Parasamgate, Boddhi Svaha)

TÂM KINH

BÁT NHÃ BA LA MẬT ÐA

I

CHÚ GIẢI

Ma ha Bát nhã Ba la mật đại minh chú kinh , do ngài Tam Tạng Cưu Ma La Thập dịch đời Diêu Tần, vào khoảng năm 402 – 412 sau Tây lịch.

Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, do ngài Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng phụng chiếu dịch vào đời Ðường, năm 649.

Ngoài hai lược bản này, kinh tạng còn có bản:

Phật thuyết Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, do Tam Tạng Pháp sư Nghĩa Tịnh dịch năm 700. Giống như bản Huyền Tráng, trừ phần chú, không dịch âm mà ghi bằng chữ Tất đàn và sau đó, thêm một đoạn.

Ngoài ra, còn có những bản khác, dài hơn, được gọi là Quảng bản Bát nhã, như sau:

Phổ biến Trí tạng Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh do Pháp Nguyệt (Dharmacandra) dịch năm 732 đời Ðường.

Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, sa môn Pháp Nguyệt dịch; mộc bản được bảo tồn tại Thanh Long tự, Ðông Tháp viện. Tuy trùng tên người dịch với bản trên, nội dung hai bản lại khác nhau.

Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, do Bát nhã (Prajnõà) và Lợi Ngôn (Li yen) dịch năm 790 đời Ðường.

Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, do Trí Tuệ Luân (Prajnõàcakra) dịch năm 850 đời Ðường.

Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, do Pháp Thành dịch năm 856. Bản này vừa tìm thấy được ở Ðôn Hoàng.

Phật thuyết Thánh Phật mẫu Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, do Thi Hộ (Dãnapãla) dịch năm 980 đời Tống.

Ngoài các bản trên, kinh lục còn ghi các bản khác, hiện nay không còn, gọi là thất bản:

Ma ha Bát nhã ba la mật đa Chú kinh, do Chi Khiêm dịch năm 223. So sánh tựa bản này với bản La Thập, ta có thể đoán đây là lược bản.

Bát nhã ba la mật đa Na kinh, do Bồ Ðề Lưu Chi (Bodhiruci)dịch năm 693.

Ma ha Bát nhã tùy Tâm kinh, do Từ Hiền (sùiksãnanda) dịch năm 700 đời Ðường.

Phạn bản Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, do Bất Không Kim Cương (Amoghavajra) dịch năm 720 đời Ðường.

Trong Ðại Tạng Kinh Trung Hoa, tôi thấy có một bản dịch ghi là của Kim Cương thượng sư, nhưng vì không đủ chứng cớ cụ thể đây là bản của Bất Không Kim Cương, nên tôi liệt bản này ở phần cuối các bản văn. Thêm vào đó, gần đây lại tìm thấy ở Ðôn Hoàng thạch thất bản dịch Phạn âm của ngài Huyền Tráng; bản này đã từng được khắc vào bia đá chùa Bạch Mã, nơi ngài Huyền Tráng trụ trì và dịch kinh. Không Hải, tức Hoằng Pháp đại sư, sáng tổ Chân Ngôn tôn ở Nhật, là người đầu tiên dịch bản Huyền Tráng sang Nhật ngữ và chú giải kinh, làm kinh nhật tụng cho chính tôn này. Từ đây, ở Trung Hoa và Nhật Bản, cũng như ở Việt Nam, bản dịch Huyền Tráng là được hâm mộ và phổ biến sâu rộng hơn hết. Cho nên, tôi đã dùng bản Huyền Tráng để dịch và chú thích. Các bản kia ta dùng để nghiên cứu hay tham khảo cho rộng thêm phần kiến văn. Bản Huyền Tráng mọi người ai cũng biết, không ai là không thuộc vì rất ngắn và rất gọn. Từ xưa, ngài Minh Châu Hương Hải đã viết bản chú giải tiếng quốc âm xưa nhất hiện còn, mang tên Bát nhã Tâm kinh thích giải . Ngài Toàn Nhật cũng đã từng viết trong Tham thiền vãn : Chí dồi mài công phu lựa lọc Kết tri âm giảng đọc Tâm kinh Cốc mình thức tử tri sinh Sá chi dế lỗ rành rành đặng mưa Hơn nữa, ai đọc tụng bản dịch của Huyền Tráng cũng thấy tinh thần sảng khoái, tâm lý an tịnh, có một sự linh cảm vô cùng đặc biệt. Chính ngay ngài Huyền Tráng khi đi Ấn Ðộ thỉnh kinh, dọc đường trải qua vô lượng gian khổ, gặp một vị Phạn tăng truyền cho bài Tâm kinh này. Ngài học thuộc lòng, âm thầm tụng niệm không ngớt, nhờ sức oai linh gia bị, ngài vượt qua tất cả nguy hiểm của rừng thiêng nước độc, của yêu tinh thú dữ, để rồi cuối cùng đạt được mục đích tham học, thỉnh được kinh pháp trở về Trung Hoa, thành một nhà đại học vấn, thành tựu sự nghiệp vĩ đại hoằng pháp lợi sanh mà Ðông Tây cổ kim thảy đều ngưỡng mộ. Cho nên, Tâm kinh Bát nhã này không những lý nghĩa vô cùng sâu xa mà sức cảm ứng cũng vô cùng linh nghiệm. Ai nhất tâm thành tín đọc tụng thì cũng có công đức vô lượng. Trong Nam Hải Quán Âm, ngài Chân Nguyên kể chuyện công chúa Diệu Thiện xuống địa ngục, gặp cảnh tội nhân khổ đau van xin nên Công chúa thấy thốt thương song Bèn chuyển Kinh Lòng động đến hoàng thiên Bảo hoa bay khắp bốn bên Hào quang thấu lọt dưới trên cửa thành Thiết già giải tích tan tành Nhất thíết tù rạc siêu sanh một giờ thì cũng đủ thấy Tâm kinh mầu nhiệm thâm diệu thế nào!

GIẢI THÍCH ÐỀ KINH

GIẢI THÍCH NỘI DUNG A. TỰ PHẦN

Quán tự tại bồ tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Bồ tát Quán tự tại khi hành trì bát nhã ba la mật đa sâu xa, soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua tất cả khổ ách. Ðoạn văn mở đầu này trực tiếp hiển thị cái thực chất vô ngã rốt ráo và trọn vẹn ở nơi mỗi chúng sanh (hay nói theo nghĩa hẹp, ở nơi mỗi con người) mà thánh trí của Bồ Tát chứng đắc khi hành trì Bát nhã ba la mật đa sâu xa, và nhờ đó giải thoát tất cả khổ ách. Lời mở đầu này bao hàm tất cả nội dung của giáo nghĩa Bát nhã. Trọn phần chánh tôn kế tiếp về sau, chỉ làm công việc quảng diễn nội dung này về hai mặt triết học và đạo học mà thôi. Ta có thể nói rằng, nếu lời Tâm kinh Bát nhã gồm 260 chữ này là tinh yếu của hệ thống Ðại Bát nhã dày 720 quyển, thì đoạn mở đầu gồm có 25 chữ này lại thêm một lần nữa cô súc tinh yếu của bài Tâm kinh. Phần ròng của giáo nghĩa Bát nhã được kết tinh trong lời mở đầu này. Quán Tự Tại Bồ tát Bồ tát là tiếng gọi tắt danh từ Bồ đề tát đỏa (phiên âm từ chữ Boddhisattva). Bồ đề dịch nghĩa là giác ngộ, tát đỏa dịch là hữu tình hay chúng sanh. Hai chữ ghép chung với nhau thành ra Bồ đề tát đỏa , có nghĩa là chúng sanh cầu đạo giác ngộ. Tàu dịch nghĩa Bồ đề tát đỏa la ø giác hữu tình, tức hữu tình hướng về giác ngộ, hoặc sắp được giác ngộ . Vì vậy bất cứ chúng sanh nào phát tâm bồ đề cầu đạo giác ngộ, đều gọi là Bồ tát. Tuy nhiên, từ cấp mới hướng về đến cấp sắp đạt được, khoảng cách giữa hai bên thật là mù thẳm xa khơi. Trong khoảng cách ấy, có nhiều cấp bậc sai khác nhau. Từ những kẻ sơ phát tâm là hạng thập tín đến những bậc công hạnh sâu dày là hàng thập địa, có tất cả là 50 bậc. Bồ tát Quán Tự Tại nói đây, ít nhất cũng từ bát địa (trong thập địa) trở lên. Vì chỉ sau khi trải qua địa vị bất động ở thập địa, bấy giờ mới được tự tại. Và cũng đến cấp đó mới đương nổi công việc thượng cầu hạ hóa, nghĩa là trên cầu Phật quả, dưới hóa độ chúng sanh. Quán Tự Tại là tên riêng của đức Bồ tát này. Quán có nghĩa là xem xét. Trong lúc hành thiền, hành giả lắng lòng trầm tư mặc tưởng để suy cứu đề tài tham khảo thì gọi là quán. Quán phối hợp với Chỉ, đó là thiền, chứ không chi khác. Trong Chỉ, đối tượng bị rị lại một vị trí bất động. Trong Quán, đối tượng di động, chuyển biến theo quá trình tự nhiên của nó. Chỉ và Quán chỉ khác nhau ở đối tượng sở quán, không khác nhau về mặt tâm hành năng quán. Bồ tát Quán Tự Tại, là dịch nghĩa Phạn ngữ Avalokitesùvara . Từ này gồm hai chữ ghép lại: Avalokita có nghĩa là quán , chiếu kiến hay nhìn khắp mọi phương; và isùvara có nghĩa là vị chúa tể , vì có quyền năng hành xử mọi việc một cách tự do. Vì thế, Avalokitesùvara là vị bồ tát dùng pháp quán chiếu Bát nhã để quan sát đối tượng đương thể tức không, không bị chướng ngại bởi các yếu tố giả hợp tạo nên các ảo tượng của đương thể, nên gọi là Bồ tát Quán Tự Tại. Giống như trường hợp một vị Bồ tát chuyên tu hạnh Không mong khởi tâm khinh mạn bất cứ ai, dù đó là kẻ ngu hèn thấp kém nhất trong xã hội, đó là Bồ tát Thường Bất Khinh. Theo công hạnh riêng mà đặt tên, đó là công lệ chung trong Phật giáo Ðại thừa. Do vì công hạnh riêng mà đặt tên, Cho nên, Bồ tát Avalokitesùvara còn có nghĩa là Quán thế âm, Kuan shih yin, theo truyền thống Trung Hoa, là vị Bồ tát được thờ phụng phổ biến nhất tại phương Ðông, với công hạnh quan sát nghe thấy tất cả những tiếng kêu cứu của chúng sinh trên cõi ta bà này. Lời tụng ” Nam mô Ðại từ Ðại bi cứu khổ cứu nạn Quán thế âm Bồ tát” , tất cả Phật tử đều khấn vái hằng ngày. Phẩm Phổ môn thuộc kinh Pháp hoa là dành riêng để xưng tán đức Bồ tát Quán thế âm trong công phu nhật tụng triêu mộ cho cả hai giới xuất gia và tại gia. Các ngài Pháp Hiền (du hành những năm 399 – 413) Huyền Tráng (dh 629 – 645) và Nghĩa Tịnh (dh 671 – 695) đều có ghi lại trong các quyển Phật quốc ký, Ðại Ðường Tây vực ký và Nam hải ký quy nội pháp truyện nhận xét của các ngài là Bồ tát Avalokitesùvara rất được tôn thờ ở tất cả mọi nơi mà dấu chân các ngài trải qua, từ Tây Tạng, Nepal, ngay cả Ấn Ðộ. Bắt đầu khoảng thế kỷ thứ nhất là đã được dân gian sùng bái, cho đến thế kỷ thứ bảy là thịnh hành nhất. Bấy giờ Bồ tát Avalokitesùvara hiện thân nam, tượng thờ đứng, một mặt hai tay; hoặc ngồi trên tòa sen một mặt hai tay hoặc sáu tay, đôi khi từ mười tay đến hai mươi tay. Biểu tượng của ngài là tràng hạt (màlà) và hoa sen (padma). Mạn trà xưng tán ngài là Om, mani padme, hùm tức là Aùn, ma ni bác di, hồng . Ðến vào khoảng thế kỷ XII trở đi thì Bồ tát Avalokitesùvara được sùng bái với tượng thân nữ và tôn thờ là Bồ tát Quán thế âm, tại Trung Hoa cũng như tại Việt Nam, trong lúc ấy các nước ở Trung Á thì không còn ảnh hưởng gì nữa. Từ đây, Bồ tát Quán thế âm còn có các tên khác như Tống tử Quan âm, Quan âm Diệu Thiện, hay Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm, Bạch y Quan âm, Tử trúc Quan âm, Quan âm quá hải, đều rất phổ biến trong dân gian. Ở Tây Tạng, Bồ tát được gọi là spyan ras gzigs , có nghĩa là vị Bồ tát có cái nhìn từ bi mẫn độ chúng sanh. Mông Cổ gọi ngài là Nidubarujekei , vị Bồ tát có đôi mắt quán chiếu, tức là quon sim bodhisattva . Tại Nhật, ngài là Kwan non (Canon). Gần đây, các nhà khảo cổ tìm thấy dấu vết sùng bái Bồ tát này tại Chiêm Thành, tức miền Trung Việt Nam nước ta ngày nay, từ trước thế kỷ thứ mười. Khi ấy, Bồ tát được gọi là Lokesùvara, gồm hai chữ Loka (thế gian) và isvara, tức nghĩa tương tợ như Quán thế âm. Một tượng đá đức Quán thế âm này vừa được tìm thấy ở chùa Ðại Hựu, có bia ký ca tụng công đức của Bồ tát, được cho là khắc vào khoảng năm 900 về trước. Tất cả các truyền thống đều tin rằng sở trú của Bồ tát là đỉnh núi Potala. Có nhiều địa điểm. Ngài Huyền Tráng ghi rằng đức Quán thế âm xuất hiện trên đỉnh Potala ở miền Nam Ấn. Tự viện của Ðạt Lai Lạt Ma ở Lhasa cũng được gọi là Potala, vì Mật giáo Tây Tạng tin rằng Bồ tát là chúa tể của thế giới chúng ta, mà Ðạt Lai là hóa thân của người. Quần đảo Châu Sơn, ngoài khơi Triết Giang, gần Ninh Ba (Ningpo), nơi đức Quán thế âm rất được sùng bái, còn được gọi là P’u t’o, tức Phổ Ðà. Dân gian còn truyền tụng rằng núi Phổ Ðà ở ngoài khơi Nam Hải. Bồ tát Quán Tự Tại, do vì quán sát rằng “sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc…” tất cả là hai mà chẳng phải hai, Cho nên, ngài còn là biểu tượng của Bồ tát Bất Nhị Trí tuệ Bát nhã là công đức mà ngài hành trì, Cho nên, ngài cũng là Bồ tát Bát Nhã. Và Bồ tát Bát Nhã Ba la mật đa là hiện thân siêu việt, tổng trì mọi công hạnh kể trên. Hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời Khi hành Bát nhã Ba la mật đa sâu xa Sáu chữ Bát nhã Ba la mật đa đã giảng rõ ở trên. Thâm là sâu xa, nói rằng Bát nhã Ba la mật đa là sâu xa vi diệu không dễ gì thể nhập mà đòi hỏi một quá trình hạ thủ công phu hành trì. Hành có nghĩa là hành trì, tức là tu tập và thực hành. Cần nhắc lại là trí tuệ Bát nhã không do cái học mang lại mà phải do công phu tu trì mới tựu thành, nên nói là hành. Vì vậy, do sâu xa vi diệu, Bát nhã Ba la mật đa đòi hỏi phải công phu tu hành mới tựu thành, chứ không phải một cái gì có thể tự nhiên mà có. Chiếu kiến ngũ uẩn giai không Soi thấy năm uẩn đều không Soi thấy là diệu dụng của quán chiếu Bát nhã. Nói soi thấy, tức tự mình trực tiếp thấy rõ, như người uống nước, tự mình biết rõ nước ấy nóng hay lạnh, ngọt hay mặn, không qua trung gian của khái niệm hay ngữ ngôn văn tự. Năm uẩn là năm nhóm họp thành một chúng sanh, tức là một con người. Chữ uẩn là do ngài Huyền Tráng dịch chữ kiền độ (skandha) tiếng Phạn. Ngài La Thập trước dịch là ấm với nghĩa là che phủ. Các dịch giả về trước nữa thì dịch là chúng , từ tập họp nhiều yếu tố lại. Sản phẩm do năm chúng, tức năm uẩn giả họp lại mà thành thì gọi là chúng sanh. Vì vậy nói cho dễ hiểu, khi nói đến tập họp của năm uẩn tức chỉ con người; con người là sản phẩm của năm uẩn. Phật giáo trong các bộ kinh được gọi là nguyên thủy đã trịnh trọng xác nhận tính chất vô ngã của tập họp năm uẩn này rồi. Riêng từng uẩn có vô ngã hay không, đó là đối tượng khảo sát của trường phái Bát nhã. Theo trường phái này, không một uẩn nào trong năm uẩn là có tự thể, không có tự thể tức là vô ngã. Tập hợp của năm uẩn là vô ngã, tức nhân không; từng uẩn một trong tập hợp ấy cũng vô ngã, tức pháp không. Cả nhân lẫn pháp đều không, đó là nội dung trong nghĩa không của Bát nhã. Trong năm uẩn, sắc uẩn chỉ nhóm vật chất bao gồm bốn đại, tức đất nước gió lửa, tạo nên xác thân con người. Thọ uẩn chỉ nhóm cảm giác, bao gồm mọi khía cạnh sinh hoạt tâm lý hạ đẳng nơi con người. Tưởng uẩn , chỉ nhóm suy tư bao gồm mọi khía cạnh sinh hoạt tâm lý cao cấp. Hành uẩn chỉ nhóm ý chí bao gồm những sinh hoạt có tính chất bản năng và ý chí. Hành là dấu vết của nghiệp cũ đang tạo tác và dìu kéo các sinh hoạt hạ đẳng và cao cấp nơi con người, đấy là loại ý chí mù quáng. Chính vì vậy, nó đóng một vai trò quyết định trong suốt đời người. Thức uẩn chỉ nhóm tri giác bao gồm mọi kiến thức trong việc nhận diện sự vật bên trong và bên ngoài con người. Trong số năm uẩn vừa nêu, sắc uẩn thuộc sắc pháp, bốn uẩn kia thuộc tâm pháp. Sắc tâm hòa hợp tạo nên con người, mệnh danh là thân năm uẩn. Trong thân ngũ uẩn ấy, các thần giáo và triết học Ấn Ðộ cho rằng có một thần ngã (atman) ngự trị bên trong bất di bất dịch, không chịu sự chi phối của vô thường. Nhưng Phật giáo vốn xây dựng trên lý duyên khởi, triệt để đánh ngã cái lý thuyết thần ngã ấy. Giáo lý vô ngã là câu trả lời đanh thép của thuyết có thần ngã vừa nói. Về sau, khi các trường phái A ty đàm vốn thuộc Thượng tọa bộ xuất hiện, giáo lý vô ngã tuy càng ngày càng thêm bền gốc chắc rễ, nhưng lại bị hạn cuộc trong phạm vi của lý thuyết nhân vô ngã. Ðến lúc Ðại thừa xuất hiện với giáo nghĩa Bát nhã, thì vô ngã mới bao trùm lên hết thảy, đó là pháp vô ngã. Ðoạn kinh trên nói tới việc năm uẩn đều không, tức đề cập đến vấn đế này đây, bởi vì vô ngã cả nhân lẫn pháp chính là nội dung của giáo nghĩa tánh không Bát nhã. Với giáo nghĩa tánh không, thuyết vô ngã như một trong hai hệ luận của duyên khởi, đã được triển khai, thuyết minh đến mức tuyệt đối cùng tột của nó. Thuyết vô ngã này không phải thuần túy là một khái niệm triết học tinh ròng, mà còn thể hiện một thực tế sống động tựu thành nhờ pháp trực quán tổng hợp, nghĩa là bằng hành trì mà chứng đắc. Do đó, nên nói soi thấy năm uẩn đều không. Ðộ nhất thiết khổ ách Vượt qua mọi khổ ách Khổ ách có ba loại. Khổ ách do chính thân tâm tạo ra gọi là ngũ uẩn xí thạnh khổ, bao gồm sanh, già, bệnh, chết, mong cầu mà không đạt được, oán ghét mà phải gặp mặt, thương yêu mà phải chia lìa; đó là loại khổ thứ nhất. Loại khổ ách thứ hai do thiên nhiên mang lại như tai trời ách nước, bão lụt, gió mưa … Ba là khổ ách do xã hội tạo ra như giai cấp xung đột, chế độ hà khắc, chiến tranh … Tất cả những loại khổ ách này, nhờ hành trì Bát nhã ba la mật đa, hành giả có thể vượt qua chúng một cách dễ dàng. Vượt qua có nghĩa là không còn bị chúng chi phối, nhận chìm. Tóm lại, đoạn tự phần này nói rằng Bồ tát Quán Tự Tại khi hành trì Bát nhã ba la mật đa sâu xa thì soi thấy năm uẩn họp thành con người không một uẩn nào là có tự thể, nhờ đó giác ngộ tánh không và giải thoát tất cả mọi ách khổ đau. Chỉ trong một đoạn này thôi, tất cả yếu lý căn bản của Bát nhã đã được trình bày đầy đủ. Các đoạn tiếp theo chỉ để triển khai yếu lý ấy về cả hai mặt triết học và đạo học.

B. CHÁNH TÔN

Phần này trình bày giáo nghĩa tánh không của Bát nhã, chia làm ba đoạn:

Nguyên lý bất nhị giữa uẩn và không

Chứng minh nguyên lý ấy qua luận lý triết học, và

Hiện thực nguyên lý bằng hành trì thực tế về mặt đạo học.

I. NGUYÊN LÝ BẤT NHỊ GIỮA UẨN VÀ KHÔNG.

Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng là như vậy. Xá Lợi Tử còn gọi là Xá Lợi Phất, dịch nghĩa tiếng Phạn ÉËriputra là người đứng đầu trong hàng đệ tử Phật, được Ðức Phật chia cho nửa ghế ngồi (bán tòa), ngài được Ðức Phật gọi mà dạy bảo là điều tất nhiên. Trong năm uẩn, sắc uẩn là nhóm vật chất, thuộc sắc pháp. Bốn uẩn còn lại là thuộc tâm pháp. Tâm pháp là hiện tượng tâm lý thường hay thay đổi, không thể sờ mó, bắt, nhìn, Cho nên, nói là không có thực thể; đó là điều có thể hiểu. Nhưng sắc pháp là hiện tượng vật chất, tự nó có chất ngại làm thể, thì sao lại bảo không thực thế được? Vì vậy đoạn kinh này phải lý giải vấn đề tại sao năm uẩn đều không tự thể. Trước hết là nói sắc uẩn. Sắc uẩn chính là xác thân con người chớ không chi khác. Xác thân ấy, nói cho cùng, không ngoài bốn đại là đất nước gió lửa, giả hợp mà tạo thành. Khi bốn đại giả hợp thì có hiện tượng xác thân. Khi chúng chia lìa thì không tìm thấy đâu nữa. Rõ ràng xác thân là không tự thể, không thường còn, không bất biến, Cho nên, nói nó là không. Không đây chẳng phải là cái không đối lập với cái có, mà là cái đương thể tức không, tức là khi sự vật hiển dương tồn tại, cái thể của nó đã không rồi, tức là nó không có tự thể, không có cái ngã riêng của nó, nghĩa là nó vô ngã. Vì nó đương thể tức không, nên tương quan giữa các sắc uẩn và không được xác định qua hai khía cạnh: chẳng khác và tức là. Trong câu ” sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc “, hai chữ chẳng khác xác minh rằng sắc và không là hai pháp riêng biệt nhưng mang tính thống nhất. Còn câu ” sắc tức là không, không tức là sắc “, thì hai chữ tức là khẳng định ngược lại sắc và không chung quy cũng chỉ một pháp. Như thế, tính thống nhất này xác định sự thật tuy hai mà một, tuy một mà hai, vừa nói lên được tính vô ngã vừa xác định được tính vô thường của nó. Nói cách khác, tính thống nhất ấy thể hiện được bản chất vô thường biến hành nhưng độc đáo của mỗi hiện tượng mà ngày xưa các vị Tổ thường gọi là nguyên lý bất nhị . Bốn uẩn còn lại cũng giống như thế. Nghĩa là thọ chẳng khác không, không chẳng khác thọ; thọ tức là không, không tức là thọ. Cho đến thức chẳng khác không, không chẳng khác thức; thức tức là không, không tức là thức. Như vậy tương quan giữa uẩn và không là một tương quan chẳng khác và tức là, nghĩa là hoàn toàn xây dựng trên nguyên lý bất nhị. Do đó, không những cái tập hợp năm uẩn tức con người là vô ngã (nhân không), mà từng uẩn một trong tập hợp ấy cũng vô ngã (pháp không). Với ngã và pháp đều không, trường phái Bát nhã của Ðại thừa đã triển khai thuyết vô ngã đến mức cùng tột mà hoàn thành giáo nghĩa tính không. Giáo nghĩa này mở đầu cho nhiều trào lưu tư tưởng khác tiếp nối và dấy khởi bất tận. Vì thế mà nói rằng Bát nhã là cái bào thai đẻ ra tất cả các kinh đại thừa.

II. CHỨNG MINH BẰNG LÝ LUẬN TRIẾT HỌC

Xá Lợi Tử thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Xá Lợi Tử: Tướng không của các pháp đây chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Xuất xứ từ nguyên lý bất nhị trên, bản kinh bây giờ trình bày cho ta cái trình tự làm sao mà đạt được cái nguyên lý bất nhị đó, để thấy rằng tất cả các pháp đều không. Luận lý áp dụng cho việc trình bày ở đây là bát bất trung đạo ; đấy là luận lý phủ định hay còn gọi là biện chứng phủ định. Nói cái không ấy chẳng sanh chẳng diệt, tức nói bản thể nó thường tịch. Nói chẳng sạch chẳng dơ, tức nói tác dụng của nó vô phân biệt. Nói chẳng thêm chẳng bớt tức nói hiện tượng nó thường tự viên mãn. Aùp dụng luận lý phủ định một cách cô đọng và ít lời đến mức đó để chứng minh cái không ở đây, trường phái Bát nhã đã khai thác nguyên lý bất nhị một cách tài tình, bởi vì nó chỉ cần nêu ra cái phủ định, thì ngay trong cái phủ định ấy hiện ra muốn khẳng định ngay liền. Sanh diệt ở đâu thì cũng chính ở đó là bất sanh diệt; bất sanh diệt ở ngay trong sanh diệt. Có sai khác là chỉ vì mê ngộ không đồng mà thôi. Vì vậy, Ðại thừa đã quả quyết rằng phiền não tức bồ đề, ta bà tức tịnh độ. Phủ định phiền não thì bồ đề tự hiện ra. Phủ định ta bà tức tịnh độ xuất hiện. Bất nhị mà! Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí, diệc vô đắc. Cho nên, trong không không sắc, không thọ, tưởng, hành, thức, không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn giới cho đến không ý thức giới; không vô minh cũng không vô minh hết; cho đến không già chết cũng không già chết hết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí cũng không đắc. Ðối tượng con người, theo Phật giáo nguyên thủy phân tích và còn được ghi chép trong bốn bộ A Hàm (nhất là bộ Trung và bộ Tạp) được chia làm ba phạm trù:

Thành phần họp thành con người (năm uẩn);

Các yếu tố đóng vai trò trung gian giữa con người và ngoại giới (mười hai xứ);

Các khu vực hoạt động riêng rẽ trong toàn bộ sinh hoạt chung của con người (mười tám giới).

Cứu cánh mà con người phải đạt cho được là trí, vì trí có nhạy bén thì mới có giác ngộ mà chấm dứt đau khổ. Giáo pháp đối trị được gói ghém trong pháp Tứ Diệu Ðế, mà cái hồn sống động là Duyên khởi, khai triển thành lý mười hai nhân duyên (hay chín nhân duyên theo buổi nguyên thủy). Như vậy, các chủ điểm quan trọng mà giáo pháp Phật phải khai thị gồm có:

5 uẩn, 12 xứ, 18 giới (trong phần đối tượng giải quyết);

12 nhân duyên, 4 đế (hồn và xác của giáo pháp);

Trí (cứu cánh phải chứng đắc).

Tất cả sáu chủ điểm trên, đều được thuyết minh rất đầy đủ trong Tạp và Trung A Hàm. Ðối trị tất cả sáu chủ điểm trên, trường phái Bát nhã lần lượt áp dụng luận lý phủ định lên tất cả, để thuyết minh lý vô ngã một cách triệt để. Áp dụng luận lý phủ định trong đoạn này, những khẳng định mới được ghi nhận thêm: 5 uẩn là giả hữu, 12 xứ là giả hữu, 18 giới là giả hữu. Như vậy, cái ngã trong con người chỉ là một ảo tưởng. Ðể đối trị cái ngã giả hữu ấy, giáo pháp Phật dạy cũng chỉ là phương tiện giả lập mà thôi. Cho nên, nói không 12 nhân duyên và cũng không có sự chấm dứt của 12 nhân duyên. Cũng như không bốn đế. Giáo pháp giả lập là nhằm đối trị cái ngã giả hữu. Dụng giả trừ giả. Như vậy thì cái trí mà giáo pháp nhằm thắp sáng lên ở nơi cái ngã ấy cũng không nốt. Mà trí đã không thì sự chứng đắc cũng không thành, Không có thành đạo, không có chứng quả. Mà thật đúng như thế. Ðứng về mặt tâm lý mà nói, ai thật sự có đắc một cái gì thì không bao giờ nghĩ rằng mình đắc. Chỉ tơ tưởng ôm ấp theo đuổi là khi mình chưa có. Khi đã có rồi, thì lòng bình thản dửng dưng. Hóa ra, không đắc mới thật sự có đắc. Hơn nữa đứng về mặt lý trí mà xét, cái đắc ấy không khác chi hơn là cái mình sẵn có, nhưng vì vô minh che lấp, nay nhờ giác ngộ mà bắt gặp trở lại mà thôi. Bây giờ, lý luận ngược chiều trở lại, ta mới thấy tất cả cái tài tình của phép luận lý phủ định. Vì không đắc nên không trí. Ðã không trí thì giáo pháp thắp sáng cái gì? Và trí đã không thì 18 giới, 12 xứ và 5 uẩn thảy đều không. 12 xứ là 12 chỗ tiếp xúc giữa trong và ngoài thân, một đối một. Mắt đối sắc, tai đối thanh … cho đến ý đối pháp. Như vậy, ta có 6 xứ bên trong (6 căn) và sáu xứ bên ngoài (6 trần) tiếp xúc với nhau theo từng cặp thích đáng để cho ta những cảm thọ. Trong các kinh A Hàm chỉ có sáu xứ thôi và được gọi là lục xúc nhập xứ. Ðây là thuyết đầu tiên triển khai sáu trần sau làm thành 12 xứ. 18 giới là18 khu vực riêng rẽ, gồm có 6 khu vực như 6 căn, 6 khu vực như 6 trần và 6 khu vực như 6 thức. Không khu vực nào xen lẫn với khu vực nào, Cho nên, gọi là giới. Giới có nghĩa là có một giới hạn riêng biệt với nhau. 12 nhân duyên là12 khâu làm nhân cho nhau và vin vào nhau (duyên) mà tạo thành dây chuyền sanh tử tiếp nối không bao giờ ngừng. Nói nhân là nói chiều dọc, tiếp nối dòng thời gian. Nói duyên là nói chiều ngang, vin vào nhau trong không gian. Vì vậy, lý duyên sanh giàn trải cả hai chiều không gian và thời gian, và phải hiểu trong tinh thần ấy mới đúng cách. 12 nhân duyên gồm có:

Nhân quá khứ: 1 vô minh; 2 hành;

Quả hiện tại: 3 thức; 4 danh sắc; 5 lục nhập; 6 xúc; 7 thọ;

Nhân hiện tại: 8 ái; 9 thủ; 10 hữu;

Quả vị lai: 11 sanh; 12 lão tử.

12 nhân duyên là không, Cho nên, cũng không có sự chấm dứt của 12 nhân duyên. Vì vậy mà nói: không vô minh, cũng không vô minh hết , là thế. Tứ đế là bốn sự thật căn bản: khổ, tập, diệt, đạo. Khổ bao gồm tất cả khổ đau về tinh thần và thể xác. Tập là nguyên nhân gây ra khổ đau, mà đầu mối là tham, sân, si. Diệt là chấm dứt khổ đau, tiêu diệt nguyên nhân khổ đau. Ðạo là con đường, là phương pháp hành trì thực tế đưa đến chấm dứt khổ đau. Khổ và tập là hai nhân quả thuộc thế gian. Diệt và đạo là nhân quả xuất thế gian. Cặp nào cũng quả trước nhân sau, vì giáo pháp Phật xây dựng trên kinh nghiệm thực tế, chứ không phải trên khái niệm triết học.

III. HIỆN THỰC BẰNG HÀNH TRÌ THỰC TẾ

C. LƯU THÔNG

Phàm là một văn phẩm tuyệt hảo, bao giờ cũng có đủ ba phần: nhập, thân và kết. Nếu tự phần là phần nhập trong đó vấn đề đã được đặt ra rõ ràng chính xác, thì chánh tôn là phần thân, trong đó vấn đề được triển khai và quảng diễn một cách viên mãn. Ðến đây, phần lưu thông là phần kết với hai nhiệm vụ, vừa gói vừa mở. Gói tức là tóm tắt các ý chính nổi bật nhất của đề tài vừa thuyết minh. Mở là khai thông đề tài, hướng nó đến một chân trời bát ngát bao la hơn, gây cho người đọc niềm hy vọng. Phần lưu thông của kinh này có đủ hai nhiệm vụ vừa nói. Nó có đoạn một, tóm tắt nội dung bằng cách tán thán công đức to lớn của phép tu quán chiếu Bát nhã; và đoạn hai, trình bày diệu dụng của thần chú Ðà la ni trong Mật giáo.

I. TÁN THÁN CÔNG ÐỨC CỦA BÁT NHÃ.

Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư. Nên biết Bát nhã ba la mật đa là thần chú lớn, là chú minh lớn, là chú vô thượng, là chú không chi sánh bằng, trừ được tất cả khổ ách, chắc thật không dối. Chú là dịch chữ mạn trà (mantra) trong tiếng Phạn. Theo nghĩa hẹp, mạn trà là những lời cầu đảo, nghĩa rất bí hiểm khi đọc lên, có tác dụng biến hóa ra các hiện tượng thiên nhiên, cả lành lẫn dữ. Theo nghĩa rộng, và đích thực của nó, mạn trà là cái gây cho ta suy nghĩ, có công năng nắm giữ tóm thâu mọi nghĩa lý, làm tiền đề cho việc tham khảo của ta, từ đó, đẻ ra mọi công đức, mọi diệu dụng. Trong nghĩa này, mạn trà thuộc một trong bốn thứ đà la ni, tức: pháp đà la ni, nghĩa đà la ni, nhân đà la ni và chú đà la ni. Chữ chú trong bài kinh này thuộc loại chú đà la ni. Ðại thần chú nghĩa là chú thần lớn, tức có thần lực vĩ đại, có thể chuyển dời, thay đổi mọi việc. Phép tu quán chiếu Bát nhã khêu sáng trí tuệ, Do đó, mà sinh tử trở thành Niết bàn, phiền não chuyển thành Bồ đề, nên nói là đại thần chú. Thần chú trí tuệ ấy chiếu phá vô minh, trừ dứt phiền não nên nói là đại minh chú, nghĩa là chú cực kỳ sáng chói, tức chú minh lớn. Cũng nhờ trí tuệ ấy mà chứng được vô thượng Niết bàn nên nói là chú vô thượng, nghĩa là chú không có gì cao hơn nữa. Lại cũng nhờ trí tuệ ấy mà chứng được vô thượng bồ đề, nên nói là chú vô đẳng đẳng, nghĩa là chú sánh với cái không gì sánh kịp. Vì phép tu quán chiếu Bát nhã có công đức to lớn như thế, so với công đức của Ðà la ni hai bên ngang nhau, vì thế nên đức Phật đã tán thán và tôn xưng phép tu ấy như là thần chú. Và vì có công đức như thế, Cho nên, trừ được tất cả thống khổ ách nạn. Cũng vì công đức ấy là công đức quả có trên hiện thực Cho nên, khẳng định lại một lần nữa rằng nó là chân thật, vì chẳng phải là dối gạt.

II. DIỆU DỤNG CỦA BÁT NHÃ

TÂM KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ÐA II VĂN BẢN

DẪN NHẬP Nguyên bản xưa nhất của Tâm Kinh là bản Phạn văn ghi bằng thủ pháp Tất Ðàn (Siddham) trên lá bối. Hiện nay, ta có một lược bản Tất Ðàn được bảo tồn tại Trường Cốc tự (Hasedera) và một lược bản Tất Ðàn khác tại Pháp Long tự (Hòryùji) của Nhật Bản (Ðể tiện định danh, bản trước ta gọi là lược bản Tất Ðàn 1 và bản sau ta gọi là lược bản Tất Ðàn 2). Truyền thuyết cho rằng Tổ Bồ đề Ðạt Ma mang cả hai bản này đến Trung Hoa, rồi từ đó được truyền sang Nhật. Nhưng gần đây, các học giả phương Tây kiểm chứng lại, ghi rằng lược bản Tất Ðàn 2, tồn trữ Pháp Long tự từ năm 609 đến nay, là được phiên dịch từ bản Hán văn của Huyền Tráng chứ không phải nguyên bản Phạn ngữ như trước đây đã lầm tưởng. Pháp Long tự (Hòryùji) được Thánh Ðức thái tử (Shotoku Taishi), vị quốc vương hộ pháp đầu tiên của Nhật, trị vì những năm 593 – 622, xuống chiếu kiến lập chùa này vào khoảng đầu thế kỷ thứ VII, mục đích là để tồn bái lược bản Tất Ðàn 2 này. Nhưng như thế, thì các học giả đã phạm phải lỗi lầm về thời gian tính, vì bản dịch của Huyền Tráng là vào năm 649, sau bản Tất Ðàn 2 này. Pháp Long tự hiện nay được xem là ngôi chùa gỗ cổ kính nhất của Nhật Bản.

Max Muller là người đầu tiên tập thành và dịch cả hai, lược bản và quảng bản theo thư pháp Devanagari, ra Anh văn năm 1894, in trong Sacred Books of the East, tập 49, phần 2, trang 147 – 154. Trước đó đã có học giả Nanjo Bujiu là người đầu tiên khám phá ra hai bản Tất Ðàn nói trên, nhưng ông chỉ tập thành, mà không phiên dịch ra Anh văn, đăng trong Anecdota Oxoniensia , t.1, tháng 3 (1884). Ngoài ra, còn có H. L. Feer chỉ tập thành và chú giải quảng bản, in trong L”Essence de la Science transcendante en langues, Tibetain, Sanscrit, Mongol (Paris, 1886). Sau đo,ù Bác sĩ D.T. Suzuki lại dịch lược bản và đăng trong quyển 3 của Essays in Zen Buddhism.

Bản Tất Ðàn: lược bản 1 và 2,

Bản Devanagari: lược và quảng,

Bản Tây TaÏng: quảng,

Bản Tất Ðàn phiên âm La Tinh: theo L. Hurvitz và R. Bucknell,

Bản Devanagari phiên âm La Tinh: lược và quảng,

Bản Tây Tạng phiên âm La Tinh: quảng,

Bản Vu Ðiền phiên âm La Tinh: quảng,

Bản Pali: lược,

Bản Mông Cổ,

Bản Mãn Châu,

Bản Tất Ðàn phiên âm Hoa ngữ: lược và quảng,

Lược bản La Thập.

Lược bản Huyền Tráng,

Quảng bản Bát Nhã và Lợi Ngôn,

Quảng bản Pháp Nguyệt (2 bản),

Lược bản Nghĩa Tịnh,

Quảng bản Trí Tuệ Luân,

Quảng bản Pháp Thành,

Quảng bản Thi Hộ,

Quảng bản Kim Cương.

Bản của Kim Cương thượng sư này, tôi nghi là thất bản Kim Cương Bất Không, nhưng chưa có chứng cớ cụ thể nên chưa đoan chắc, Do đó, mà liệt bản này cuối cùng. Bản này cùng bản Pháp Thành và quảng bản Phạn âm của Huyền Tráng được rút ra từ Trung Hoa Ðại Tạng Kinh. Các bản khác từ số 12 đến số 19 được rút ra từ Nhật bản Ðại Tạng Kinh, Nihon Daizokyo, tập 20, tr.1 11. Sở dĩ tôi không dùng Ðại Chánh tân tu Ðại Tạng Kinh, tức Taisho shinshu Daizokyo, là vì bộ trên có ghi chú cách đọc theo Nhật ngữ, Cho nên, tiện lợi cho các học giả biết Nhật văn. Tiếp theo đó là:

Bản chú giải của ngài Minh Châu Hương Hải, bằng tiếng quốc âm của nước ta. Sau cùng là:

Bản Nhật ngữ,

Bản Anh ngữ,

Bản Pháp ngữ.

Riêng về bản dịch Anh ngữ, hiện nay có rất nhiều bản dịch, mỗi bản đều có một vài khuyết điểm, hoặc không sát nghĩa, hoặc dài dòng lủng củng. Do đó, tôi tổng hợp các bản dịch của Suzuki và Garma Chang, bỏ đi đoạn thừa, thêm vào chỗ thiếu, để tạo thành một bản Anh dịch tạm gọi là đầy đủ và sát nghĩa nhất làm dịch bản cho bản của ngài Huyền Tráng. Khi so sánh lược bản Devanagari và bản dịch của ngài Huyền Tráng (cũng như bản La Thập), ta thấy có một vài khác biệt như sau: Bản Devanagari không có câu: ” Ðộ nhất thiết khổ ách “. Bản Devanagari lại có thêm ” Tức không tức sắc ” trước hai câu ” sắc bất dị không …”; ngoài ra, còn có câu ” diệc vô vô đắc ” sau phần ” vô trí (diệc) vô đắc ” của Huyền Tráng. Một điều đáng chú ý là lược bản Tất Ðàn lại rất giống với bản của Huyền Tráng, tức có những phần thừa thiếu như trên, Cho nên, một số học giả gần đây giả thiết rằng lược bản Tất Ðàn này là phiên dịch từ bản của Huyền Tráng ra, chứ không phải là nguyên bản Phạn ngữ như Max Muller và Nanjo Bujiu đã lầm tưởng. Tôi rất tiếc là không có bản dịch tiếng Pháp trực tiếp từ Phạn ngữ, mà phải dùng bản của Herbert vốn dịch lại từ bản dịch của Suzuki. Tam sao thất bản. Lại cũng không có bản Ðức ngữ, mặc dầu có một số học giả người Ðức rất có công nghiên cứu văn học Bát nhã (Trong lần tái bản này, nhờ các Phật tử tại Tây Ðức, chúng tôi có được bản dịch Tâm kinh sang Ðức ngữ mà các Phật tử người Ðức thường tụng. Ðiều đáng tiếc là chúng tôi không rõ dịch giả của bản này). Mong rằng các thiện tri thức chú ý đến các khuyết điểm này để bổ túc thêm cho.