Top 3 # Ý Nghĩa Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Drosetourmanila.com

“Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập, Tự Do”

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc (Ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

Trong lịch sử nhân loại, việc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giành độc lập không phải là đặc điểm riêng có của một dân tộc nào, song thật hiếm có một dân tộc như dân tộc Việt Nam, phải thường xuyên đấu tranh chống lại nhiều kẻ thù mạnh hơn gấp bội để giành lại quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.

“Là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập. Người đã nêu lên một chân lý nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(1).

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” – Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 17-7-1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đang ở giai đoạn quyết liệt, là sự kế thừa, nối tiếp tinh thần và ý chí quyết giành “độc lập tự do” cho dân tộc đã từng được khẳng định trong bản Tuyên ngôn Độc lập (năm 1945) và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (tháng 12-1946). “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” – lời kêu gọi thiêng liêng, bất hủ của Bác là khát vọng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam, giá trị to lớn trong học thuyết Hồ Chí Minh và cũng chính là mục tiêu chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp vĩ đại đấu tranh vì độc lập, tự do, vì sự tồn tại và phát triển của dân tộc. Đồng thời, là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với nhân loại tiến bộ, đặc biệt đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh vì cuộc sống và hạnh phúc của mình.

Với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”, dân tộc ta đã “đánh cho Mỹ cút”; trang sử đánh giặc ngoại xâm của Việt Nam có thêm: người con gái biệt động Võ Thị Thắng trước đòn khảo tra dã man của quân thù vẫn nở nụ cười chiến thắng; Nguyễn Văn Trỗi trước giờ phút bị quân thù xử bắn, hai tay bị trói chặt mà đôi mắt vẫn sáng ngời niềm tin chiến thắng đã nhìn thẳng vào mặt quân thù hô vang ba lần: “Hồ Chí Minh muôn năm!”; Nguyễn Viết Xuân nhằm thẳng quân thù mà bắn; 10 cô gái Đồng Lộc ở tuổi thanh xuân đã hy sinh cho sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc…

Thừa thắng, quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong 55 ngày đêm tiến công, ta đã “đánh cho ngụy nhào”. Từ đây đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện trọn vẹn mong muốn của Bác Hồ và làm sáng ngời hiện thực của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”, chúng ta đã vào cuộc trường chinh xây dựng “đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” với công cuộc đổi mới theo sự chỉ dẫn của Bác Hồ: “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Đi theo chỉ dẫn đó, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tiềm lực đất nước và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” – giá trị thời đại sâu sắc

Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng mang tầm chân lý, một chân lý bất hủ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và giá trị thời đại sâu sắc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập, tự do là quyền dân tộc, quyền con người, là xuất phát điểm đối với mọi dân tộc trên con đường đi tới phồn vinh và hạnh phúc. Dân tộc không thể phát triển, đất nước không thể phồn vinh, nhân dân không thể có cơm no, áo ấm và cuộc sống hạnh phúc nếu không có được độc lập, tự do. Ý nghĩa thời đại sâu sắc và lâu dài của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” chính là ở chỗ: Có độc lập, tự do thì có tất cả. Độc lập, tự do của dân tộc; quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc trong một đất nước độc lập, tự do là vô cùng quý giá và thiêng liêng, không thể xâm phạm.

Giành lấy và bảo vệ độc lập, tự do là yêu cầu sống còn của các dân tộc. Khi độc lập, tự do bị xâm phạm thì cả dân tộc phải kiên quyết đứng lên chiến đấu đến cùng để giữ vững và bảo vệ nền độc lập và tự do ấy.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là tư tưởng mang tính cách mạng sâu sắc và triệt để. Tính cách mạng sâu sắc, triệt để của tư tưởng thể hiện ở chỗ, dù tư tưởng được Người nói đến trong một thời điểm cụ thể của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhưng nó gắn bó rất chặt chẽ với cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, một sự nghiệp vĩ đại mà Người đã phấn đấu, hy sinh cả cuộc đời. Đấu tranh giành độc lập, tự do, vì độc lập, tự do đã thực sự nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản.

Tính cách mạng sâu sắc, triệt để của tư tưởng còn thể hiện cụ thể ở nội dung rộng lớn của tư tưởng, bao hàm cả việc đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Độc lập, tự do chỉ có ý nghĩa và giá trị thực sự khi nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2). Người tìm thấy giá trị của độc lập, tự do, hạnh phúc trong mục tiêu và lý tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học, vì vậy, Người khẳng định “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”(3).

Như vậy, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” có nội hàm rộng lớn, giá trị to lớn và tính cách mạng sâu sắc. Nó không chỉ là độc lập, tự do của Tổ quốc mà còn là hạnh phúc của nhân dân; nó không chỉ được thể hiện trong đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược, mà còn thể hiện sâu đậm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa xã hội ở Hồ Chí Minh không phải là những giáo điều cứng nhắc, xa lạ với lợi ích vật chất và tinh thần của con người, mà nó hết sức cụ thể và thiết thực. Người nói: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”(4)…

Có thể gọi đó là chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh”, một quan niệm về chủ nghĩa xã hội phù hợp với quan niệm truyền thống của dân tộc Việt Nam và hợp với xu thế của thời đại hiện nay.

TTXVN

Tư Tưởng “Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập, Tự Do” Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Cách đây nửa thế kỷ, ngày 17-7-1966, trong Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Đây là sự khái quát cao bản chất cốt lõi của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được kết tinh từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, phản ánh ý chí, khát vọng, tinh thần quật cường của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giành, giữ nền độc lập thiêng liêng của Tổ quốc. Tư tưởng – chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành động lực to lớn, hạt nhân quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thôi thúc cả dân tộc vùng lên kháng chiến, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên phát triển rực rỡ của cách mạng Việt Nam: Kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, cổ vũ nhân dân và các dân tộc bị áp bức trên thế giới tiếp tục đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã dày công nghiên cứu, phân tích đúng đắn bản chất của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và vấn đề cách mạng ở các nước thuộc địa. Người khẳng định cách mạng ở các nước thuộc địa muốn thành công triệt để phải tiến hành đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc, tự do, dân chủ cho nhân dân và quyền bình đẳng với các dân tộc khác. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Người soạn thảo đã xác định mục tiêu, phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam, trong đó nhấn mạnh: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”(1). Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5-1941), Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc… nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(2). Với mục tiêu tiên quyết giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, Đảng ta đã thức tỉnh, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, không phân biệt đảng phái, giai cấp, tín ngưỡng, nghề nghiệp,… tạo nên sức mạnh to lớn đánh Pháp, đuổi Nhật, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám (1945), khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giữ vững ngọn cờ độc lập, tự do, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân nêu cao ý chí, quyết tâm “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(3); nhất quán thực hiện đường lối “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; chú trọng giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ, giữa độc lập dân tộc và người cày có ruộng; chăm lo xây dựng chế độ mới của dân, do dân và vì dân; thực hiện giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng đất cho nông dân sản xuất… Nhờ đó, đã từng bước giải quyết đúng đắn, hài hòa lợi ích của các bộ phận; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; tạo ra động lực, sức mạnh to lớn để nhân dân ta làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954) “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, chấm dứt sự đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta.

Trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Nhờ đó, đã phát huy sức mạnh của tiền tuyến và hậu phương, dân tộc và thời đại để đánh thắng kẻ thù xâm lược, hoàn thành mục tiêu của cách mạng. Đặc biệt, khi đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam, đồng thời sử dụng không quân và hải quân tăng cường đánh phá miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố đanh thép: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(4). Lời hiệu triệu của Người thể hiện ý chí, quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam, động viên mạnh mẽ lòng yêu nước, dũng khí cách mạng, thúc giục quân và dân cả nước vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Bước vào thời kỳ cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Với đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo, công cuộc đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vẫn đứng vững, tiếp tục giành những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu nổi bật và cơ bản là chúng ta đã giữ vững được độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; từng bước phá thế bao vây cô lập của kẻ thù, ngăn chặn và đẩy lùi mọi mưu đồ chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, phản động; tạo môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực tuy hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, song tiếp tục diễn biến phức tạp tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức đan xen; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ và chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt… Ở trong nước, tuy thế và lực, sức mạnh tổng hợp, uy tín quốc tế của đất nước không ngừng được nâng cao; quá trình hội nhập quốc tế đạt tầm, mức sâu rộng hơn… nhưng chúng ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình đó đặt ra những yêu cầu mới đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Hơn lúc nào hết, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cùng với việc tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; quán triệt và thực hiện thắng lợi đường lối Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng đã đề ra thì cần phát huy hơn nữa giá trị tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản, trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục quán triệt cho các cấp, ngành, địa phương, lực lượng và toàn dân nắm vững, thấu suốt tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trong điều kiện mới.

Đây là vấn đề rất quan trọng, làm cơ sở để định hướng tư tưởng và hành động, đồng thời xác định nội dung, phương thức, lộ trình cùng những bước đi phù hợp trong triển khai thực hiện. Theo đó, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” phải được nhận thức sâu sắc, toàn diện và vận dụng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, vấn đề tiên quyết, cơ bản nhất là giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị mà mấu chốt là độc lập, tự chủ về đường lối của Đảng, bảo đảm đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được hoạch định và kết tinh bởi tâm huyết, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, phục vụ cho mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, được vận dụng một cách khoa học, sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam và trở thành định hướng phát triển, nền tảng tư tưởng của toàn xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì phải luôn thực hiện tốt phương châm: “Đổi mới nhưng không đổi hướng”, “hội nhập nhưng không hòa tan”.

Đảng phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn để tăng cường đoàn kết, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của mình. Coi trọng phát huy năng lực nội sinh, tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc và khả năng sáng tạo của quần chúng nhân dân trong giải quyết các vấn đề trọng đại của đất nước. Kiên quyết đấu tranh phản bác sự xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị. Quán triệt và thực hiện tốt những nội dung về độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trên mọi lĩnh vực, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, nhất quán giữa đường lối chiến lược và chủ trương, chính sách cụ thể của tất cả các mặt, lĩnh vực, tạo sức mạnh tổng hợp trong thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đây là nguyên tắc chiến lược trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay và có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát huy giá trị hiện thực của tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trong điều kiện mới. Vì vậy, cần nhận thức, quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm bảo vệ Tổ quốc của Đảng được thể hiện tập trung trong các văn kiện của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XII, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Từ đó, tập trung xây dựng nền quốc phòng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, nhất là trên các địa bàn chiến lược trọng điểm trên cơ sở “thế trận lòng dân” vững chắc. Trong bối cảnh hội nhập vừa hợp tác, vừa đấu tranh, việc nhận thức về độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong lĩnh vực này cần hết sức linh hoạt, biện chứng, khắc phục sự xơ cứng trong tư duy; đồng thời, phát huy được năng lực nội sinh và tranh thủ được các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Lực lượng vũ trang nhân dân, đặc biệt là Quân đội nhân dân cần phát huy hơn nữa vai trò nòng cốt, chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc trong mọi tình huống; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước; tăng cường đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch; sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống mang tính toàn cầu. Tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa… sẵn sàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ.

Ba là, coi trọng phát huy dân chủ, thường xuyên chăm lo đời sống, lợi ích chính đáng của nhân dân.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(5), “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(6). Vì thế, phát huy dân chủ và thường xuyên chăm lo đời sống, lợi ích chính đáng của nhân dân là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, nhằm hiện thực hóa ngày càng tốt hơn tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trong hoàn cảnh mới.

Để làm tốt vấn đề này, các cơ quan, đơn vị toàn quân tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, tạo mọi thuận lợi cho nhân dân tham gia rộng rãi và thường xuyên vào quản lý nhà nước, kinh tế, xã hội và giải quyết các vấn đề nảy sinh ở địa phương, cơ sở. Thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đội quân công tác, đội quân sản xuất, cùng nhân dân phát triển kinh tế – xã hội đi đôi với tăng cường quốc phòng – an ninh, gắn với bảo đảm an sinh xã hội trên các vùng, miền, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tiếp tục giúp nhân dân triển khai các mô hình kinh tế, xây dựng nông thôn mới; huy động mọi nguồn lực cùng Nhà nước chăm lo ngày một tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách, gia đình và người có công với cách mạng…

Kỷ niệm 50 năm thực hiện tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta càng nhận rõ hơn tầm vóc, ý nghĩa và giá trị to lớn, xuyên suốt của nó trong tiến trình cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là nội dung quan trọng, có giá trị lý luận và thực tiễn, lịch sử và hiện thực sâu sắc, tiếp tục soi đường để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vận dụng thực hiện trong tình hình mới.

Đại tướng NGÔ XUÂN LỊCH

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy T.Ư, Bộ trưởng Quốc phòng

(1) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.1.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.113.

(3) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.480.

(4) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.108.

(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.56.

(6) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.152.

Theo http://nhandan.com.vn/

Ý Nghĩa Lịch Sử Ngày Tết Độc Lập 2/9

Sau khi Hà Nội và miền Bắc khởi nghĩa thắng lợi, ngày 25 tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu trở về ngoại thành Hà Nội. Chiều hôm sau, Đoàn Trung ương đón Người về ở căn gác 2, nhà số 48, phố Hàng Ngang, Hà Nội để trực tiếp chỉ đạo phong trào. Người đã chủ tọa phiên họp của Thường vụ Trung ương Đảng bàn về công tác đối nội, đối ngoại, và đưa ra quyết định về việc khẩn trương tổ chức lễ ra mắt chính phủ lâm thời.

Từ sáng sớm lễ Quốc khánh ngày mùng 2/9, hàng chục vạn người hàng ngũ chỉnh tề, cờ hoa khoe sắc, áo quần tươi màu đỏ thắm đã dồn về quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Những biểu ngữ nền đỏ chữ vàng bằng các thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Hoa, Nga chăng ngang đường phố.

Những chiến sĩ cách mạng đã từng anh dũng chiến đấu ở Bắc Sơn, Vũ Nhai, lập nên các chiến công Nà Ngần, Phai Khắt, giờ đây vẫn nắm chắc tay súng, một lòng hướng tâm bảo vệ nền Độc lập mới ra đời. Hơn 50 vạn người đại diện cho mọi tầng lớp xã hội trong nhân dân, ai ai cũng nét mặt hân hoan phấn khởi chờ đón giờ khai sinh của chế độ mới- chế độ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cũng cung giờ này, thì nhiều cuộc mít tinh lớn đã được tổ chức tại Huế, Sài Gòn và nhiều thành phố khác. Muôn triệu trái tim đang hồi hộp hướng về Hà Nội, đợi chờ giây phút thiêng liêng nhất.

Đúng 14 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các vị lãnh đạo trong Chính phủ lâm thời bước ra lễ đài. Bản nhạc Tiến quân ca hùng tráng vang lên, mọi ánh mắt đều hướng về lá cờ đỏ sao vàng rựa rỡ đang từ từ được kéo lên theo nhịp điều của bài hát. Hàng chục vạn tay nắm chặt tay giơ lên ngang tai, thể hiện lòng quyết tâm và ý chí sắt đá, kiên cường, kính chào lá cờ vinh quang của Tổ quốc.

Ý nghĩa của ngày Quốc Khánh

Theo Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, chương 1, điều 13, mục 4 đã khẳng định: “Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập mùng 2 tháng 9 năm 1945 ra đời”.

Lễ Quốc khánh ngày mùng 2/9 của Việt Nam được tổ chức sau ngày lễ 30/4-1/5 giải phóng toàn dân, đây là ngày lễ lớn vô cùng trọng đại của người dân Việt Nam, được diễn ra vào mùng 2/9 hằng năm, đây là ngày kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

Sau 72 năm kể từ ngày khai sinh ra nước Việt Nam ,đến nay, đất nước Việt Nam vẫn không ngừng nỗ lực vươn lên mạnh mẽ. Với lịch sử gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia được tăng lên đáng kể.

Việt Nam được bạn bè năm châu mến phục, biểu tượng cho sự ổn định xã hội, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao nhân nghĩa con người trong thế kỷ XXI. Với những thành tựu to lớn đã đạt được từ ngày thành lập nước đến nay, dân tộc ta đã chứng tỏ được phần nào sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam.

72 năm qua là một quá trình phấn đấu hy sinh không gì có thể so sánh bằng của cả dân tộc nhằm bảo vệ và xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam hôm nay. Ngày nay đất nước ta đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần; Việt Nam đã trở thành một quốc gia có uy tín trên trường quốc tế. Mỗi lần đến ngày kỉ kiệm, thì người Việt Nam dù đang ở bất kỳ nơi đâu, ngay trong lòng đất mẹ hoặc ở xa Tổ quốc, cũng không khỏi xúc động bồi hồi, khi nhớ lại khí thế đầy hào hùng, sôi sục và náo nức của những ngày chiến đấu cách mạng gian khổ, đặc biệt là ngày Quốc khánh 2-9-1945 lịch sử.

Đây chính là dịp để bất cứ người dân Việt Nam nào, đồng bào cả nước cũng như bào kiều ở nước ngoài cùng hướng về tổ quốc. Cùng nhau tưởng nhớ những người anh hùng đã hy sinh vì Tổ quốc, cùng tưởng nhớ và biết ơn tới vị vĩ nhân Hồ Chí Minh- người anh hùng dân tộc.

Đồng thời cũng là dịp mà các thế hệ sau cùng nhau nhìn lại chặng đường gian khổ và hào hùng của dân tộc, trau dồi lòng yêu nước và cống hiến sức mình cho tương lai sau này.

Với ý nghĩa và tầm vóc vô cùng lớn lao đó, dịp lễ Quốc khánh ngày mùng 2/9 đã trở thành một trong những ngày hội lớn nhất của dân tộc, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sim Tứ Quý, Ngũ Quý Là Gì? Ý Nghĩa Của Sim Tứ Quý 7777, 8888

Sim tứ quý, ngũ quý là gì?

Bạn có thể nhanh chóng nhận thấy đặc điểm của 2 loại sim đẹp này ở ngay tên của chúng.

– Sim tứ quý là sim có 4 chữ số cuối trùng nhau, sự lặp lại của 4 số tạo nên bộ tứ quý trong dãy số của sim, chính vì thế bản chất của sim tứ quý là rất đẹp. Các bộ tứ này gồm: 0000, 1111, 2222, 3333, 4444, 5555, 6666, 7777, 8888, 9999.

– Sim ngũ quý là sim có 5 chữ số cuối trùng nhau, sự lặp lại của 5 số tạo nên bộ ngũ quý trong dãy số của sim, chính vì thế bản chất của sim ngũ quý là rất đẹp. Các bộ ngũ quý này gồm: 00000, 11111, 22222, 33333, 44444, 55555, 66666, 77777, 88888, 99999.

Người ta đánh giá thứ bậc của sim tứ quý, ngũ quý tùy thuộc vào ý nghĩa của các con số. Có người thấy số này đẹp nhưng có người lại cho là xấu, vì thế sim số đẹp hay xấu còn thuộc vào quan điểm cũng như ý nghĩa của con bộ số đó với từng người.

Đầu tiên, chúng ta tìm hiều thuyết Phương Đông nói gì về sim tứ quý 7777:

Số 7 là con số có sức mạnh kỳ diệu. Số 7 tượng trưng cho sức mạnh, đẩy lùi ma quỷ, nó được ban cho một sức mạnh kỳ bí bất khả xâm phạm.

Theo Đạo Phật số 7 có ý nghĩa là quyền năng mạnh nhất của mặt trời. Những người theo đạo Phật tin rằng trong suốt tháng 7 (âm lịch) tất cả linh hồn trên thiên đường và địa ngục sẽ trở lại dương gian. Con số 7 còn tượng trưng cho sự thành tựu sinh hóa cả vũ trụ không gian (Đông, Tây, Nam, Bắc). Thời gian (Quá khứ, Hiện tại, Tương lai). Thất bửu (Vàng, Bạc, Lưu ly, Pha lê, Xa cừ, Trân châu, Mã não).

Thời cổ cho rằng có 7 mặt trời hoạt động xung quanh và chiếu sáng cho trái đất, loài người nhận thức có 7 tầng trời khác nhau, cùng với 7 sắc cầu vồng tạo nên ấn tượng mạnh mẽ của số 7. Số 7 đem lại sức sống cho vạn vật, đem lại ánh sáng và hy vọng cho loài người.

Sim Tứ Quý 7 còn được những người yêu thích sim số đẹp dịch là Tứ Thất tức là “Bốn mùa không mất”

Điểm khiến mọi người “tôn sùng” SIM tứ quý này chính bởi 4 chữ “quí” liên tiếp cực kì hoàn hảo như trong những bộ bài Tây (4 quân bài giống nhau). Những Tứ Quý kiểu như 6666, 7777, 8888, hay 9999 thường dẫn đầu về giá so với các tứ quý khác và luôn được các “đại gia” săn lùng bởi tính vừa hiếm, vừa quí của nó.

Số 8 theo thuyết phương đông là số tượng trưng cho sự thịnh vượng, sức khỏe và may mắn. Con số biểu hiện tốt lành này là tám điều bất tử trong đạo Lão và Bát Chánh đạo trong Phật giáo.

Trong đời sống hàng ngày, số 8 cũng được ứng dụng như: Cửa sổ hình bát giác, bình cắm hoa tám mặt, một mảnh gương hình bát quái… đều có sức mạnh tinh thần và con người ta tin rằng số 8 cũng có thể ngăn chặn không cho những cái xấu xâm nhập vào nhà.

Số 8 còn là con số “âm tận cùng” vì là con số tận cùng trong dãy số 2, 4, 6, 8. Theo quan điểm “cùng tắc biến, biến tắc thông” (khi con người bị vùi xuống tận cùng bế tắc, để tồn tại chỉ còn con đường duy nhất là phải đứng lên), chính vì vậy con số 8 đối với người phương Đông đều biểu hiện cho sức mạnh tiềm tàng và sự trỗi dậy mạnh mẽ, một sự chuyển biến tốt lành.

Sim tứ quý 8888 là sim may mắn theo thuyết học Phương Đông được nhiều các bạn yêu thích sim số đẹp tìm kiếm.

XEM THÊM:

♥♥♥♥​♥ Từ khóa tìm kiếm trên Google nhiều nhất:

– Sim tứ quý là gì?

– Sim ngũ quý là gì

– Sim tu quy, ngu quy la gi

– Sim tu quy 7777, 8888

– Sim ngũ quý có ý nghĩa gì

– Ý nghĩa của sim số đẹp 7777, 8888

– Ý nghĩa của bộ tứ 7777, 8888

– Ý nghĩa của sim tứ quý trong cuộc sống

TAG:So hop 1990 – So hop 1991 – Số hợp 1992 – Số hợp 1993 – Số hợp 1994 – Số hợp 1995 – Số hợp 1996 – Số hợp 1997