Top 7 # Ý Nghĩa Khoa Học Và Thực Tiễn Của Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Drosetourmanila.com

Ý Nghĩa Ngày Nay Của Học Thuyết Về Giá Trị Thặng Dư Của C. Mác

1 – Cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa

C. Mác đã vạch ra rằng, tư bản không hề phát minh ra lao động thặng dư, rằng: “Nơi nào mà một bộ phận xã hội chiếm độc quyền về những tư liệu sản xuất thì nơi đó người lao động, tự do hay không tự do, đều buộc phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống bản thân mình một số thời gian lao động dôi ra dùng để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất” (1). Quy luật kẻ chiếm hữu tư liệu sản xuất bóc lột người lao động không có tư liệu sản xuất, được thực hiện dưới những hình thức và cơ chế khác nhau trong những hình thái xã hội khác nhau.

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, giai cấp nô lệ bị lệ thuộc hoàn toàn về thân thể vào giai cấp chủ nô, thì ngoài việc bị bóc lột lao động thặng dư, nô lệ còn bị chiếm một phần lớn sản phẩm cần thiết của giai cấp nô lệ. Trong chế độ phong kiến, giai cấp nông nô đã có một phần tự do về thân thể đối với giai cấp địa chủ và chế độ bóc lột lao động thặng dư biểu hiện dưới hình thức bóc lột địa tô, lao động thặng dư và lao động cần thiết được phân chia rõ ràng. Bởi vậy, theo C. Mác cơ chế bóc lột thời phong kiến có nhiều tiến bộ hơn chiếm hữu nô lệ.

Giai cấp tư sản bước lên vũ đài lịch sử cũng là giai cấp độc chiếm tư nhân những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Khác với cơ chế bóc lột trong hai hình thái kinh tế – xã hội trước chủ yếu dựa trên quan hệ hiện vật, cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa dựa trên quan hệ giá trị; nói cách khác là quan hệ trao đổi những vật ngang giá (tức là tuân theo quy luật giá trị). Quan hệ này che dấu sự bóc lột trong một cơ chế trao đổi với vẻ bề ngoài như là tự do và bình đẳng, chính vì vậy mà các nhà kinh tế học trước C. Mác đã không thành công trong việc lý giải bản chất bóc lột tư bản chủ nghĩa.

A. Smith và D. Ri-các-đô đã quan niệm một cách hời hợt, bề ngoài rằng, mua bán giữa tư bản và công nhân hình như là mua bán lao động nên cả hai ông đều gặp bế tắc trong việc lý giải một cách khoa học bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận. Chẳng hạn, nếu lao động là hàng hóa thì nó phải được kết tinh vào vật, như vậy là công nhân bán hàng hóa chứ không bán lao động; lao động được xác định là thước đo của mọi giá trị thì không thể tự lấy nó để đo lường giá trị của bản thân nó. Mặt khác, nếu mua bán lao động mà trao đổi ngang giá thì không còn cơ sở tồn tại của lợi nhuận, nhưng thực tế lợi nhuận tồn tại một cách khách quan. Vậy, theo các cách giải thích đó, quy luật giá trị mâu thuẫn với quy luật sản xuất ra lợi nhuận và ngược lại.

C. Mác đã phát hiện rằng, quan hệ mua bán giữa công nhân và tư bản không phải là mua bán hàng hóa lao động mà là mua bán một loại hàng hóa đặc biệt – hàng hóa sức lao động. Hàng hóa này có giá trị và giá trị sử dụng khác với các hàng hóa thông thường. Giá trị của hàng hóa sức lao động là giá trị những tư liệu sinh hoạt tối thiểu cần thiết để tái sản xuất sức lao động của công nhân và bao hàm những yếu tố tinh thần, lịch sử và dân tộc… – Giá trị sử dụng của hàng hóa này (tức là tiêu dùng nó trong quá trình sản xuất) có khả năng tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị của chính nó là sức lao động. Do đó dù nhà tư bản trả đủ giá trị sức lao động cho công nhân trên cơ sở trao đổi ngang giá thì vẫn thu được phần giá trị dôi ra, biến thành lợi nhuận. Như vậy, quy luật giá trị và quy luật sản xuất ra lợi nhuận không phủ định lẫn nhau mà song song tồn tại: trao đổi giữa tư bản và công nhân tuân theo quy luật ngang giá (quy luật giá trị sức lao động) nhưng nhà tư bản vẫn thu được phần dôi ra ngoài giá trị sức lao động; phần dôi ra đó được C. Mác gọi là giá trị thặng dư. Như vậy, bóc lột lao động thặng dư biểu hiện thành bóc lột giá trị thặng dư là quy luật bóc lột đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất đó.

Tỷ số giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến hay tỷ số giữa lao động thặng dư và lao động cần thiết là tỷ suất giá trị thặng dư; tỷ suất đó nói lên mức độ bóc lột giai cấp công nhân. Giá trị thặng dư có biểu hiện bề ngoài là một số tiền dôi ra ngoài tư bản ứng trước; số tiền đó có tên gọi là lợi nhuận. Phạm trù lợi nhuận che dấu quan hệ bóc lột vì nó làm cho người ta dễ lầm tưởng là con đẻ của tư bản ứng trước (c + v) chứ không phải là con đẻ của tư bản khả biến (v).

Tổng số giá trị thặng dư bóc lột được phân chia thành các loại thu nhập ăn bám trong xã hội tư bản: lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi nhuận ngân hàng; nó còn được phân chia nhỏ hơn nữa thành lợi nhuận doanh nghiệp, lợi tức cho vay v.v.. Quá trình phân chia đó tuân thủ theo quy luật cạnh tranh bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận. Giá trị thặng dư còn phải phân chia cho chủ sở hữu ruộng đất dưới hình thức địa tô. Như vậy, tổng số giá trị thặng dư do toàn bộ giai cấp vô sản, công nhân tạo ra trong các ngành sản xuất bị toàn bộ giai cấp tư bản và địa chủ phân chia nhau trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng.

Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, đỉnh cao của nó là độc quyền nhà nước là chủ nghĩa đế quốc, đã có nhiều biến đổi trong hình thức và cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa. Quy luật sản xuất giá trị thặng dư biểu hiện thành quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân trong thời kỳ tự do cạnh tranh thì nay, trong chủ nghĩa tư bản độc quyền, nó biểu hiện thành quy luật tỷ suất lợi nhuận độc quyền cao; quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất trong thời kỳ tự do cạnh tranh nay biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền với hệ thống giá bán độc quyền cao, giá mua độc quyền thấp do tư bản độc quyền can thiệp và áp đặt v.v.. Những bộ phận cấu thành lợi nhuận độc quyền cao là: lao động thặng dư, thậm chí một phần lao động cần thiết của công nhân trong xí nghiệp độc quyền; một phần lao động thặng dư của các xí nghiệp nhỏ và vừa do xí nghiệp độc quyền xén bớt thông qua hệ thống giá cả độc quyền; lao động thặng dư, thậm chí một phần lao động cần thiết của nông dân và thợ thủ công cũng bị bóc lột thông qua hệ thống giá cả độc quyền; phần quan trọng là siêu lợi nhuận thuộc địa dựa trên sự bóc lột nặng nề lao động thặng dư và một phần lao động cần thiết của nhân dân lao động ở những nước thuộc địa hay phụ thuộc.

Cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học – kỹ thuật và của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, cơ chế bóc lột đã trở nên phức tạp và tinh vi hơn (chủ nghĩa Taylo, chủ nghĩa Fayol, chủ nghĩa Ford, chủ nghĩa Ford mới v.v., lần lượt xuất hiện để biện minh cho tính công bằng, sòng phẳng trong quan hệ giữa tư bản với lao động). Trên thực tế trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, ngày càng có nhiều thủ đoạn và hình thức bòn rút lợi nhuận tinh vi để không ít người còn lầm tưởng đến một thứ chủ nghĩa tư bản mới “nhân văn” hơn trước đây, như “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, “xã hội tham dự”… Điều không thể che dấu được đó là sự hình thành một tầng lớp tư sản ăn bám, quý tộc, thực lợi, tài phiệt; sự thao túng có tính chất toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia, tình trạng bất bình đẳng trong các quan hệ thương mại quốc tế; sự xuất hiện của cái gọi là chủ nghĩa thực dân kinh tế; sự áp đặt chính sách giữa Đông và Tây, giữa các nước giàu với các nước nghèo…

2 – Đào sâu sự phân cực xã hội – hệ quả tất yếu của quy luật bóc lột tư bản chủ nghĩa

Sự phân hóa xã hội thành giai cấp không lao động nhưng giàu có, đầy quyền lực, thống trị, áp bức đa số người trong xã hội và giai cấp lao động sản xuất ra của cải xã hội nhưng nghèo khổ, bị tước mọi quyền và bị áp bức là sản phẩm tất yếu của mọi xã hội có chế độ người bóc lột người dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Nhưng sự phân cực xã hội với hình thức biểu hiện kinh tế của nó là sự phân hóa giàu – nghèo trong các xã hội nô lệ và phong kiến, mặc dù các chế độ bóc lột siêu kinh tế này biểu hiện ra là dã man, tàn bạo, nhưng là có hạn độ.

Trong chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa, sự phân cực xã hội là vô cùng sâu sắc, sự phân hóa giàu nghèo được đẩy tới cực độ. Ở đây của cải ngày càng tập trung vào một số nhỏ các cá nhân là những triệu phú và tỉ phú; ở cực đối lập là những người sống dưới mức nghèo khổ ở các nước tư bản phát triển và đông đảo những người cùng khổ, đói rét ở các nước tư bản đang phát triển. Chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa đã sớm chớp lấy những thành tựu mới của khoa học, kỹ thuật và công nghệ để không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội, do đó năng suất lao động thặng dư cũng ngày càng tăng theo; cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa đã chuyển hướng sang dựa chủ yếu trên sự tăng năng suất lao động. Cũng trên cơ sở kỹ thuật đã phát triển mà cơ chế bóc lột dựa trên tăng cường độ lao động thái quá và kéo dài ngày lao động một cách che dấu cũng phát triển. Của cải xã hội ngày càng được tạo ra nhiều, nhưng lại chỉ tập trung vào một cực. Mặt khác, nội dung vật chất của chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa là giá trị thặng dư mang hình thức giá trị trao đổi (tức là vàng bạc hay tiền tệ); trong quan hệ bóc lột dựa trên hình thức giá trị trao đổi, lòng thèm khát tăng lao động thặng dư và khát vọng làm giàu trên cơ sở đó được đẩy tới cực độ. Sở dĩ như vậy là vì giá trị trao đổi với hình thức biểu hiện vật chất của nó là vàng, tức tiền tệ, về mặt chất lượng có sức mạnh vô hạn (có tiền là có tất cả), về mặt số lượng bao giờ cũng có hạn. Mâu thuẫn giữa chất lượng có sức mạnh vô hạn và số lượng có hạn đó làm tăng lòng thèm khát vơ vét được nhiều tiền. Do tất cả những điều kiện lịch sử và tình hình trên, quy luật bóc lột tư bản chủ nghĩa đã đẩy sâu quá trình phân cực xã hội mà các xã hội bóc lột trước kia không thể sánh kịp.

Đặc điểm của sản xuất tư bản chủ nghĩa còn là tái sản xuất mở rộng nhằm mở rộng bóc lột và ngày càng tích tụ tập trung tư bản để cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội với mục đích thu lợi nhuận cao hơn lợi nhuận trung bình và thắng trong cạnh tranh. Do đó, tư bản tích lũy ngày càng giành đầu tư nhiều hơn vào việc hiện đại hóa guồng máy sản xuất, làm cho kết cấu hữu cơ (c/v) của tư bản thay đổi theo hướng: tư bản bất biến (c) tăng lên cả về giá trị tuyệt đối và tương đối trong khi tư bản khả biến (v) tăng lên tuyệt đối, nhưng giảm tương đối do kỹ thuật hiện đại vừa đắt tiền vừa làm giảm số lượng công nhân vận hành máy móc. Quy luật kết cấu của tư bản thay đổi theo hướng tăng lên như vậy dẫn đến giảm mức cầu về sức lao động trong khi số lượng của giai cấp công nhân tăng lên cùng với sự phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa. Từ đó dẫn đến nạn nhân khẩu thừa tương đối hay nạn thất nghiệp và hình thành đội quân công nghiệp trù bị.

Tích tụ, tập trung tư bản trong quá trình tích lũy cũng đưa đến kết quả một số ít nhà tư bản tước đoạt của số đông nhà tư bản nhỏ và vừa qua con đường cạnh tranh “cá lớn nuốt cá bé”. Nạn nghèo khổ, áp bức, nô dịch, bóc lột càng tăng lên. Vậy là, sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa…

3 – Ý nghĩa ngày nay của Học thuyết về giá trị thặng dư đối với nước ta

Trong Học thuyết về giá trị thặng dư, C. Mác đã có một nhận định có tính chất dự báo khoa học trong xã hội hiện nay, đó là: “Mục đích thường xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm thế nào để với một tư bản ứng trước tối thiểu, sản xuất ra một giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư tối đa; và trong chừng mực mà kết quả ấy không phải đạt được bằng lao động quá sức của những người công nhân, thì đó là một khuynh hướng của tư bản, thể hiện ra trong cái nguyện vọng muốn sản xuất ra một sản phẩm nhất định với những chi phí ít nhất về sức lực và tư liệu, tức là một khuynh hướng kinh tế của tư bản dạy cho loài người biết chi phí sức lực của mình một cách tiết kiệm và đạt tới mục đích sản xuất với một chi phí ít nhất về tư liệu” (2).

Từ việc nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác, chúng ta thấy rõ ít nhất ba vấn đề lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước.

Một là, trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều và xơ cứng cũ. Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.

Hai là, trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiện được. Điều có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là quan hệ phân phối phải được thể chế hóa bằng luật. Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước mỗi khi được thể chế hóa thành luật và các bộ luật thì chẳng những góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hội nói chung, mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng. Ai chấp hành đúng pháp luật thì được xã hội thừa nhận và tôn vinh theo phương châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp. Trong quản lý xã hội thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một mặt, chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thông qua Nhà nước và bằng các “kênh” phân phối lại và điều tiết thu nhập xã hội. Thiết nghĩ, đây là một hướng tiếp cận vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột, cũng như việc vận dụng nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng sức sản xuất, tạo động lực phát triển kinh tế và chủ động hội nhập thành công với nền kinh tế quốc tế.

Ba là, mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người lao động lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể mới bảo đảm công khai, minh bạch và bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh những xung đột không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể hiện trong bản chất của chế độ mới. Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, những quyền lợi được luật pháp bảo vệ, của tất cả các bên trong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việc vận dụng một cách hợp lý quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thời cũng là những đóng góp cơ bản nhất cho cả quá trình hoàn thiện và xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

(1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t 23, tr 347 (2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Sđd, t26, phần II, tr 804

Ý Nghĩa Khoa Học Và Thực Tiễn

Cùng dự còn có các đồng chí Lê Quang Dực, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Nguyễn Văn Trình, Ủy viên Ban Thường vụ, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh; lãnh đạo Sở Văn hóa-Thông tin, Quân khu I, Quân khu II; đại diện Ban Tuyên giáo TW, Bộ Thông tin Truyền thông, Viện Lịch sử Việt Nam…

Cách đây tròn 60 năm, trên mảnh đất lịch sử Việt Bắc-Căn cứ địa kháng chiến của cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã anh dũng đập tan cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn của thực dân Pháp lên Việt Bắc. Với chiến thắng oanh liệt này, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp, đảm bảo an toàn cho các cơ quan đầu não của TW.

Chiến thắng Việt Bắc trở thành một sự kiện lịch sử lớn trong cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta, trở thành biểu tượng của ý chí quyết chiến, quyết thắng, thể hiện khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo của quân và dân ta. Thắng lợi đã khẳng định sự đúng đắn đường lối kháng chiến của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc hội thảo về Chiến thắng Việt Bắc Thu đông 1947 mang nhiều ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn, nhằm khẳng định và làm sáng tỏ thêm về một số vấn đề: Âm mưu và hành động xâm lược, bản chất hiếu chiến, phiêu lưu mạo hiểm của thực dân Pháp thông qua kế hoạch tiến công lên Việt Bắc hòng phá căn cứ địa và chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến của ta; Sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của TW Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc và toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; Tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta mà trực tiếp là quân, dân vùng Việt Bắc đã tạo nên sức mạnh to lớn của cuộc chiến tranh nhân dân chống lại kẻ thù xâm lược trong giai đoạn đầu rất khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; nghệ thuật chỉ đạo xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, bảo vệ cơ quan đầu não TW, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân; tầm vóc, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và những bài học kinh nghiệm về xây dựng, bảo vệ đất nước, vận dụng và phát huy trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng, an ninh nhân dân hiện nay.

Học Thuyết Giá Trị Thăng Dư Của Chủ Nghĩa Mác

Tham dự và chủ trì Hội thảo, có chúng tôi Lê Quốc Lý, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; chúng tôi Ngô Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Kinh tế Chính trị học; PGS Đoàn Xuân Thủy, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Chính trị cùng các đại biểu là các nhà khoa học đến từ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Học viện Chính trị KV I, KV IV; Học viện Báo chí Tuyên truyền; Học viện Cảnh sát nhân dân; Trường Bách khoa Hà Nội; Sĩ quan đặc công cùng đại biểu các đơn vị trực thuộc.

Tại Hội thảo, chúng tôi Đoàn Xuân Thủy đã trình bày báo cáo tóm tắt về một số nội dung của học thuyết giá trị thặng dư. Sau gần 2 thế kỷ, C.Mác đã phát minh ra học thuyết giá trị thặng dư, nhờ đó tìm ra và nhận thức rõ quy luật vận động kinh tế của xã hội tư bản chủ nghĩa, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi bất công xã hội, triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người. Sự bổ sung, vận dụng và phát triển học thuyết gái trị thặng dư của C.Mác vào điều kiện ở nước Nga đã giúp cho V.I.Lenin và Đảng Bôn-sê-vích cùng giai cấp công nhân Nga đã thực hiện thành công CMT10 năm 1917, mở ra kỷ nguyên, thời đại mới cho sự phát triển của nhân loại – thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo xu thế đó, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập đã lựa chọn chủ nghĩa Mác – Lênin, mà một trong những yếu tố cốt lõi trong đó là học thuyết giá trị thặng dư làm nền tảng tư tưởng ngay từ khi thành lập. Sự vận dụng sáng tạo học thuyết này đã góp phần đặc biệt quan trọng vào thành công lớn của cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong việc dành và giữ chính quyền.

PGS.TS Lê Quốc Lý, Phó Giám đốc Học viện CTQGHCM phát biểu chủ trì hội thảo

Tuy nhiên, với nhận thức chủ yếu về bản chất bóc lột của giá trị thặng dư với tư cách là phạm trù đặc thù riêng có của chủ nghĩa tư bản (CNTB), học thuyết này đã được nghiên cứu và vận dụng với tư cách là công cụ tư tưởng để chống lại và xóa bỏ CNTB, việc nghiên cứu để vận dụng và xây dựng chế độ kinh tế – xã hội mới đã không được chú trọng ở Liên xô, các nước XHCN Đông Âu và những bước phát triển mới của CNTB trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI đã tạo cơ hội trỗi dậy của những tư tưởng chống đối, phản bác Chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, trong đó có học thuyết gía trị thặng dư nói riêng. Tình hình đã và đang đặt ra vấn đề cho các dân tộc tiếp tục lựa chọn đi lên CNXH, trong đó có Việt Nam phải suy ngẫm, đổi mới tư duy phát triển. Do đó, việc coi chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó có học thuyết gái trị thặng dư là một bộ phận cấu thành quan trọng đặc biệt trong nền tảng tư tưởng của Đảng CSVN cần phải được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển phù hợp với bối cảnh mới của đất nước và quốc tế.

Những biến động phức tạp, khó lường trong phát triển kinh tế thế giới như toàn cầu hóa, khu vực hóa, các công ty đa quốc gia, sự thay đổi của các yếu tố địa chính trị, địa kinh tế và đặc biệt là cuộc CMCN 4.0 với sự phát triển của công nghệ số, công nghệ sinh học, thực tế ảo…; sự thay thế của máy móc tự động và trí tuệ nhân tạo cho lao động sống của con người; vai trò của những nhân tố chủ yếu trong sản xuất của xã hội công nghiệp như đất đai, lao động, nguyên liệu, vốn… đang có xu hướng dần suy giảm, tri thức đã và đang trở thành yếu tố quyết định nhất trong nền sản xuất hiện đại. Nhiều yếu tố mới đã xuất hiện trong phân phối thu nhập biểu hiện thông qua sự hình thành và phát triển của tầng lớp trung lưu bao gồm bộ phận công chức, người lao động có tay nghề cao có mức sống khá, một bộ phận công nhân có cổ phần, cổ đông trong các công ty trở thành nhà đầu tư thông qua mua cổ phiếu, trái phiếu, phiếu tiết kiệm và thu được lợi tức cổ phần, lợi tức trái phiếu và lãi suất tiền gửi… tại các nước tư bản phát triển. Nhiều nước tư bản phát triển đã đạt được trình độ cao về phúc lợi xã hội… đã và đang đặt ra câu hỏi, phải chăng đó là những điều kiện biểu hiện mới của sản xuất và phân phối giá trị thặng dư?

Trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, đã có không ít ý kiến cho rằng những giá trị cốt lõi trong học thuyết giá trị thặng dư của chủ nghĩa Mác – Lênin cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào xây dựng CNXH như vai trò của yếu tố chủ quan trong quá trình sản xuất hiện đại, vai trò của lao động khoa học công nghệ đứng bên cạnh để điều tiết và kiểm soát quá trình sản xuất, vai trò của sự dẫn đầu trong việc thu lợi nhuận siêu ngạch, các phương pháp sản xuất và hình thức phân phối gía trị thặng dư trong nền kinh tế TBCN hiện đại.

GS.TS Chu Văn Cấp, Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Chính trị đóng góp ý kiến xoay quanh học thuyết giá trị thặng dư của chủ nghĩa Mác – Lênin

Tuy nhiên, đến nay, nhiều vấn đề lớn về thực tiễn, căn cốt xuất hiện những chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng về lý thuyết. Sự bị động, tụt hậu về lý luận dưới ảnh hưởng rất lớn của tư duy giáo điều và phương pháp tiếp cận cũ đang kìm hãm sự phát triển KT – XH của đất nước. Về bản chất vẫn chưa có sự nghiên cứu bài bản trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, lộ trình, bước đi của CNXH; về mô hình phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm; về kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện hiệu quả quá trình CNH, HĐH đất nước, vừa tạo cơ hội phục hồi, phát triển chủ nghĩa hoài nghi. Việc chưa xác định rõ các quy luật của nền KTTT định hướng XHCN và mối quan hệ giữa chúng đang gây khó khăn trong việc xây dựng tầm nhìn, hoạch đinh chiến lược phát triển dài hạn, xác định vai trò cụ thể của Nhà nước trong nền KTTT. Đến nay vẫn chưa phân định rõ chức năng Nhà nước – thị trường cho nên Nhà nước vẫn đang làm thay, thực hiện nhiều chức năng mà thị trường đảm nhiệm hiệu quả hơn. Chính sách phân phối còn nhiều bất hợp lý chưa thực sự khơi dậy và phát huy được hiệu quả các động lực để phát triển kinh tế, đồng thời làm cho khoảng cách giàu nghèo của các tầng lớp dân cư, vùng miền, ngành nghề… ngày càng dãn rộng.

Những thách thức nảy sinh từ thực tiễn cùng với xu thế phát triển mới của thời đại tạo ra yêu cầu phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ những giá trị cốt lõi, khoa học, chân lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, học thuyết giá trị thặng dư, những luận điểm có giá trị lịch sử không còn phù hợp với bối cảnh mới, những dung cần bổ sung, phát triển và vận dụng vào phát triển KT – XH trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch, tạo cơ sở khoa học thực sự cho việc bảo vệ, bổ sung phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới.

Giá Trị Của Khoa Học

Diễn đàn

- Richard Feynman

Trong mọi giá trị của khoa học, giá trị to lớn nhất là quyền tự do nghi ngờ.

Hình vẽ quả đất đặt trên lưng bốn con voi, và những con voi thì đứng trên lưng một con rùa, (1876, Wikipedia). Thỉnh thoảng, người ta nói với tôi rằng những nhà khoa học nên quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề xã hội, thậm chí là phải có trách nhiệm quan tâm đến tác động của khoa học đến đời sống xã hội. Có lẽ, nhiều nhà khoa học đã nghe những điều tương tự như vậy. Có vẻ như người ta tin rằng, nếu nhà khoa học chỉ tập trung vào những vấn đề nóng bỏng của xã hội và đừng dành quá nhiều thời gian cho những vấn đề khoa học thuần túy thì sẽ đạt được những thành công vang dội. Thật ra tôi cũng có nghĩ đến các vấn đề của xã hội, nhưng không bỏ nhiều thời gian và cố gắng để giải quyết chúng. Bởi vì, chúng ta không có một công thức thần kỳ nào để giải quyết các vấn đề đó, các vấn đề của xã hội thì khó hơn rất nhiều so với các vấn đề trong khoa học. Tôi nghĩ những nhà khoa học cũng sẽ chẳng giúp ích được gì nhiều trong chuyện này. Nhà khoa học khi nói đến các vấn đề của xã hội thì cũng chỉ ngờ nghệch như người không chuyên mà thôi. Câu hỏi giá trị của khoa học là gì nằm ngoài phạm trù của khoa học tự nhiên nên bài nói này chỉ là ý kiến của cá nhân tôi mà thôi. Giá trị thứ nhất của khoa học là nó giúp chúng ta làm nhiều việc và tạo ra nhiều thứ. Tất nhiên nếu điều chúng ta làm là tốt đẹp thì không chỉ nhờ vào khoa học mà còn nhờ vào đạo đức của chúng ta. Kiến thức khoa học, như một con dao hai lưỡi, nó cho phép làm điều tốt và cả điều xấu nữa – bản thân kiến thức khoa học không mang theo nó một hướng dẫn nào về cách dùng kiến thức đó. Điều này làm tôi liên tưởng đến một câu nói trong Phật giáo: Mọi người sống trên đời đều được nhận một chiếc chìa khóa để mở cánh cửa vào thiên đàng, nhưng cũng chính chìa khóa đó mở cánh cửa vào địa ngục. Chìa khóa đương nhiên phải có giá trị vì nếu không có chìa khóa, ta sẽ không thể vào thiên đàng. Nhưng nếu không cẩn thận, ta có thể lạc vào địa ngục. Giá trị của khoa học là vậy, nó cho phép chúng ta làm nhiều thứ, tốt và xấu. Giá trị thứ hai của khoa học là niềm vui có được khi ta đọc, học, suy nghĩ hay trực tiếp làm khoa học. Đây là một giá trị rất quan trọng và rất thật, nhưng tiếc rằng người ta thường không đề cập đến nó khi nhắc nhở các nhà khoa học nên quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề của xã hội. Thật ra tận hưởng niềm vui trong khoa học thì cũng như tận hưởng những niềm vui khác trong cuộc sống, nó cũng có giá trị của riêng nó – cần được tôn trọng. Khoa học cho chúng ta một cái nhìn thú vị về thế giới, cái nhìn mà ngay trí tưởng tượng của nhà thơ và của những kẻ hay mơ mộng trong quá khứ cũng không đạt đến. Thế giới này thật to lớn, thú vị, và vượt xa trí tưởng tượng của con người. Chẳng phải tuyệt vời sao khi tất cả chúng ta đều dính chặt – trong đó một nửa dân số dính lộn ngược vào Trái đất nhờ vào một lực hút trọng trường bí hiểm. Quả đất được ví như một quả bóng tự quay qua hàng tỉ năm. Nhờ khoa học, chúng ta đã có một sự thay đổi cách nhìn về thế giới, cái mà truyền thuyết từng cho rằng quả đất được đặt trên những con voi, và những con voi thì đứng trên lưng một con rùa khổng lồ. Nhờ vào khoa học mà ngày nay chúng ta có được nhiều thông tin về thế giới hơn so với những thế hệ trước. Nhìn sóng biển, ta biết rằng những phân tử nước khiêu vũ liên tục tạo thành những ngọn sóng, hết sóng này đến sóng khác, năm này qua năm khác, mà không biết mệt. Rồi thế giới của sự sống được tạo nên bởi những hạt vật chất phức tạp hơn như protein, DNA…, chúng cũng đang nhảy múa không mệt mỏi. Chính sự nhảy múa này tạo ra một cơ thể sống (như con người) – biết tự hỏi, biết tự suy nghĩ, biết tò mò về thế giới và về bản thân. Thân thể ta như một vũ trụ của các phân tử và ta cũng chính là một phân tử trong vũ trụ… Mọi thứ trên thế giới này, nếu ta tìm hiểu về chúng đến nơi đến chốn thì sẽ gặp những điều vô cùng lí thú và bí hiểm, từ đó dẫn đến những câu hỏi mới, rồi lang thang trong thế giới tưởng tượng và mơ mộng. Đây thật sự là chuyến phiêu lưu kỳ thú của con người. Tất nhiên những người không làm khoa học thì ít khi có những trải nghiệm như vậy. Những nhà văn hay nhà thơ, những nghệ sĩ thì không nói hay viết, miêu tả về những điều thú vị này. Tôi tự hỏi tại sao? Chẳng lẽ không ai có được cảm hứng về những điều kì thú của thế giới, của vũ trụ hay sao? Cũng không có những bài hát hay những ca sĩ hát về khoa học, đó là lí do tại sao khoa học chỉ được nghe ở những giảng đường. Và có lẽ là kỷ nguyên của khoa học vẫn chưa đến. Khi các nhà khoa học nói rằng “khám phá này có thể đóng góp lớn vào điều trị bệnh ung thư”–thì họ chỉ đề cập giá trị sử dụng của ý tưởng, của khám phá đó chứ chưa quan tâm đến bản thân cái ý tưởng. Và cũng không nhiều người hiểu được điều tuyệt vời của ý tưởng. Nhưng thật may mắn, những đứa trẻ lại có thể. Khi chúng hiểu được ý tưởng đó, có thể chúng sẽ trở thành những nhà khoa học trong tương lai. Nhưng nếu đợi chúng lớn đến khi vào đại học thì đã trễ, vì vậy, người lớn hãy cố gắng giải thích cho chúng những ý tưởng, những khám phá càng sớm càng tốt và biết đâu chúng sẽ trở thành nhà khoa học. Giá trị thứ ba của khoa học là những trải nghiệm về sự vô minh, về sự nghi ngờ và về những điều không chắc chắn. Điều này là vô cùng quan trọng. Khi nhà khoa học không có lời đáp cho một vấn đề nào đó, anh ta nghĩ mình tối dạ. Nhưng khi anh ta có vài tín hiệu cho lời đáp thì anh ta vẫn chưa thật chắc chắn. Và khi nào anh ta gần như có đủ tín hiệu/dữ liệu cho lời đáp thì anh ta vẫn còn nghi ngờ. Và sự thật là khi chúng ta thừa nhận sự vô minh và chừa chỗ cho sự nghi ngờ, là đã giúp chúng ta phát triển. Thật ra, khối kiến thức về khoa học chứa đựng những thông tin mà trong số đó có điều không chắc chắn, có điều gần như chắc chắn nhưng không có điều nào là tuyệt đối chắc chắn. Đến bây giờ, các nhà khoa học đã quen với những điều không chắc chắn và sẵn sàng sống chung với sự vô minh. Người ta có biết rằng, tự do để nghi ngờ sinh ra từ thuở sơ khai của khoa học, khi con người phải chống lại quyền lực và sự cai trị áp đặt để tìm đến sự thật. Đó là một cuộc chiến mạnh mẽ và bền bỉ của con người để giành lấy quyền tự do nghi ngờ về tất cả, và hiểu rằng không điều gì là chắc chắn. Và trách nhiệm của xã hội là tiếp tục cuộc chiến để duy trì quyền tự do nghi ngờ này. Khi bàn về giá trị của khoa học, ta thường nói đến giáo dục. Thử hỏi nếu tất cả chúng ta được giáo dục tốt thì tất cả sẽ trở thành người hiền tài chăng? Không phải vậy, giáo dục rất hiệu quả, nhưng rất tiếc là cho cả điều tốt và điều xấu. Cũng giống như giao tiếp vậy, người ta có thể truyền thông tin thật hoặc giả dối. Khoa học, tối thiểu giúp ta đáp ứng được nhu cầu vật chất. Y học giúp chúng ta chữa bệnh –điều khiến ta tưởng chừng như khoa học chỉ mang lại những tốt đẹp? Thật ra cũng có nhiều người đang ngày đêm nghiên cứu để tạo ra các bệnh truyền nhiễm và thuốc độc – họ đang chuẩn bị cho những cuộc chiến trong tương lai. Hầu như không ai thích chiến tranh, và ước mơ của ta là sống trong hòa bình để phát triển tối đa bản thân. Nhưng hòa bình cũng có thể tốt hoặc xấu. Biết đâu ngày nào đó người ta cảm thấy chán chường khi phải sống đằng đẵng trong hòa bình – điều khiến họ không đạt được thứ mà họ muốn trong đời? Rõ ràng hòa bình là điều kiện lý tưởng để chúng ta làm được nhiều việc nhờ vào sức mạnh của khoa học. Thế nhưng dường như điều chúng ta đã làm được hãy còn rất nhỏ bé so với điều chúng ta có thể làm. Tại sao vậy? Bởi vì, rất tiếc, khoa học bản thân nó không mang theo một chỉ dẫn nào về cách sử dụng nó cho điều tốt và cho điều xấu.

Lê Quốc Chơn (Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ cao – Đại học Duy Tân) lược thuật từ “The Value of Science”–bài phát biểu của Richard P. Feynman tại lần họp tháng 11 năm 1955 của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ, diễn ra ở khuôn viên Đại học Caltech, Pasadena, California. Phạm Xuân Yêm hiệu đính