Top 3 # Ý Nghĩa Khoa Học Của Định Nghĩa Vật Chất Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Drosetourmanila.com

Định Nghĩa Vật Chất Của Ln. Ý Nghĩa Khoa Học

a. Định nghĩa vật chất của LN:

– Hoàn cảnh ra đời của định nghĩa: Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 có một loạt phát minh khoa học mang tính bước ngoặt ra đời như phát hiện ra tia X, tia rơn – gen, trường điện từ, học thuyết tiến hoá, định luật bảo toàn vật chất và vận động, định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng… Những phát minh khoa học này làm cho quan niệm siêu hình, máy móc về vật chất vấp phải mâu thuẫn khi không thể giải thích được các hiện tượng cho phát minh khoa học mới. Lợi dung điều đó, chủ nghĩa duy tâm vật lý đi tới phủ định vật chất, cho rằng vật chất biến mất, tiêu tan. Trong bối cảnh đó, khái quát những thành tựu khoa học đương thời, LN đã đưa ra định nghĩa về vật chất.

– Nội dung định nghĩa: Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, LN đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau:

“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

– Phân tích nội dung của định nghĩa: +Trong định nghĩa vật chất này, LN chỉ rõ “vật chất là một phạm trù triết học”, nghĩa là vật chất được LN sử dụng với tư cách là phạm trù triết học chứ không phải với tư cách là phạm trù của các khoa học cụ thể khác. Đã làm phạm trù triết học thì nó mang tính khái quát, trừu tượng hoá cao, đồng thời thể hiện thế giới quan và phương pháp luận triết học. Hơn nữa, phạm trù triết học mang tính khái quát hoá rộng hơn so với phạm trù của các khoa học khác. Điều này có nghĩa vật chất được hiểu theo nghĩa triết học khác với phạm trù vật chất được dùng trong khoa học vật lý, hoá học, chính trị học…

+ Trong định nghĩa của mình, LN cũng nói rằng vật chất “được dùng để chi thực tại khách quan”, có nghĩa là vật chất có rất nhiều thuộc tính nhưng thuộc tính cơ bản nhất, quan trọng nhất, thuộc tính cần và đủ để phân biệt cái gì thuộc vật chất và cái gì không thuộc vật chất chính là thực tại khách quan.

Thực tại khách quan là sự tồn tại thực và khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người và loài người. Những gì có thuộc tính Êy thì thuộc về vật chất. VD: Quan hệ sản xuất là một phạm trù vật chất. Nhưng tình

yêu, truyền thống dân tộc lại thuộc phạm trù ý thức.

+ “… được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” có nghĩa là thực tại khách quan (tức vật chất) có trước, còn cảm giác của con người (tức ý thức) là cái có sau. Điều này cũng có nghĩa cảm giác của con người (ý thức) có thể phản ánh được thực tại khách quan (tức vật chất). Hay nói cách khác, thực tại khách quan không tồn tại trừu tượng mà thông qua các dạng tồn tại cụ thể của mình và bằng cảm giác (ý thức) mà con người có thể nhận thức được.

b. Ý nghĩa khoa học

– Định nghĩa về vật chất của LN đã chống lại được cả quan điểm duy tâm chủ quan và quan điểm duy tâm khách quan về vấn đề cơ bản của triết học và về phạm trù vật chất.

– Định nghĩa này đã giải quyết được vấn đề cơ bản của triết học trên cả hai mặt” bản thể luận và nhận thức luận. Phái bản thể luận cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau. Phái nhận thức luận thì cho rằng ý thức tư duy, nhận

thức được vật chất.

– Nội dung định nghĩa vật chất của LN đã khắc phục được tính trực quan siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ, đồng thời kế thừa được những tư tưởng duy vật biện chứng về vật chất của

Mác – Ăngghen.

– Định nghĩa vật chất của LN là cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới vật chất.

– Định nghĩa vật chất của LN là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xã hội.

– Định nghĩa này là một khuôn mẫu về định nghĩa khoa học, mở ra một phương hướng mới cho định nghĩa trong logic biện chứng.

Nội Dung, Ý Nghĩa Phương Pháp Luật Của Định Nghĩa Vật Chất

40865

Tổng kết từ những thành tựu tự nhiên của khoa học, phê phán những quan niệm duy tâm, siêu hình về phạm trù vật chất, Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất như sau:

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.

Theo định nghĩa của Lênin về vật chất:

– Cần phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học với những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học là kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn tất cả những sự vật, những hiện tượng là những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trình phát sinh, phát triển, chuyển hóa. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với một hay một số dạng biểu hiện cụ thể của vật chất.

– Đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan tức là thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó.

– Vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh.

Định nghĩa của Lênin về vật chất có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:

– Bằng việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể, khắc phục được hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm về lịch sử của chủ nghĩa duy vật trước Mác.

– Khi khẳng định vật chất là thực tại khách quan “được đem lại cho con người trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lai, phản ánh”, Lênin không những đã khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức theo quan điểm duy vật mà còn khẳng định khả năng con người có thể nhận thức được thực tại khách quan thông qua sự “chép lại, chụp lại, phản ánh” của con người đối với thực tại khách quan.

Theo định nghĩa vật chất của Lê-nin, thì trước tiên cần phải phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với “vật chất là toàn bộ thực tại khách quan”. Nó khái quát những thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng tồn tại của vật chất với khái niệm vật chất được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành, hay nói cách khác là khác dùng để chỉ những dạng vật chất cụ thể như: nước lửa không khí, nguyên tử, thịt bò…

Thứ hai thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất chính là thuộc tính tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại vận động và phát triển của nó không lệ thuộc vào tâm tư, nguyện vọng, ý chí và nhận thức của con người.

Thứ ba vật chất ( dưới những hình thức tồn tại cụ thể của nó) là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức; những cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến các giác quan của con người.

Thứ tư trong định nghĩa này, Lê-nin đã giải quyết triệt để vấn đề cơ bản của triết học . Cụ thể là vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau thể hiện ở câu” được đem lại cho con người trong cảm giác“; con người có khả năng nhận thức được thế giới thông qua câu ” đ ược cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh “, Lê-nin khẳng định bằng nhiều cách thức khác nhau, bằng nhiều trình độ khác nhau con người tiến hành nhận thức thế giới.

Định nghĩa này đã bao quát cả 2 mặt của vấn đề cơ bản của TH, thể hiện rõ lập trường DV biện chứng. Lenin đã giải đáp toàn bộ vấn đề cơ bản của triết học đứng trên lập trường của Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

– Coi vật chất là có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức, ý thức con người là sự phản ánh của thực tại khách quan đó. Con người có khả năng nhận thức thế giới.

– Định nghĩa này bác bỏ quan điểm duy tâm về phạm trù vật chất. (Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức).

– Định nghĩa này khắc phục tính chất siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của CNDV trước Mac (quan niệm vật chất về các vật thể cụ thể, về nguyên tử, không thấy vật chất trong đời sống xã hội là tồn tại).

– Định nghĩa vật chất của Lê Nin bác bỏ quan điểm của CNDV tầm thường về vật chất (coi ý thức cũng là 1 dạng vật chất)

– Định nghĩa này bác bỏ thuyết không thể biết.

– Định nghĩa này đã liên kết CNDV biện chứng với CNDV lịch sử thành một thể thống nhất. (vật chất trong TN, vật chất trong xã hội đều là những dạng cụ thể của vật chất mà thôi, đều là thực tại khách quan).

– Mở đường cổ vũ cho KH đi sâu khám phá ra những kết cấu phức tạp hơn của thế giới vật chất (Định nghĩa này không quy vật chất về vật thể cụ thể, vì thế sẽ tạo ra kẻ hở cho CNDT tấn công, cũng không thể quy vật chất vào 1 khái niệm nào rộng hơn để định nghĩa nó, vì không có khái niệm nào rộng hơn khái niệm vật chất. Vì thế chỉ định nghĩa nó bằng cách đối lập nó với ý thức để định nghĩa vạch rõ tính thứ nhất và tính thứ 2, cái có trước và cái có sau).

Định nghĩa vật chất của Lê-nin có hai ý nghĩa quan trọng sau đây.

Thứ nhất bằng việc chỉ ra thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất là thuộc tính tồn tại khách quan, đã giúp chúng ta phân biệt được sự khác nhau căn bản giữa phạm trù vật chất với tư cách là phạm trù triết học, khoa học chuyên ngành, từ đó khắc phục được hạn chế trong các quan niệm của các nhà triết học trước đó, cung cấp căn cứ khoa học để xác định những gì thuộc và không thuộc về vật chất.

Thứ hai khi khẳng định vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh, Lê-nin đã giải quyết triệt để vấn đề cơ bản của triết học đó là vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức. Đó là con người có thể nhận thức được thế giới khách quan thông qua sự chép lại, chụp lại, phản ánh của con người đối với thực tại khách quan. Định nghĩa vật chất của Lê-nin đã tạo cơ sở nền tảng, tiền đề để xây dựng quan niệm duy vật về xã hội,về lịch sử

Mặc dù định nghĩa vật chất của Lê-nin đã ra đời gần hai thế kỷ nhưng nó vẫn giữ nguyên giá trị thực tiễn và khoa học.

Ý Nghĩa Của Đánh Giá Kiểm Định Chất Lượng

* Khái niệm.

– Chất l­ượng giáo dục – đào tạo có thể đánh giá trực tiếp qua sản phẩm đào tạo, qua chất lư­ợng sv, hs lên lớp, tốt nghiệp, tuy nhiên cũng có thể đánh giá gián tiếp qua các điều kiện để đảm bảo chất lư­ợng.

– Kiểm định chất lư­ợng tiếp cận theo cách phối hợp hai cách đánh giá trên.

– Kiểm định chất lư­ợng giáo dục – đào tạo là một hệ thống tổ chức và giải pháp để đánh giá chất lư­ợng giáo dục – đào tạo ( đầu ra) và các điều kiện bảo đảm chất lư­ợng giáo dục – đào tạo theo các chuẩn mực đ­ược quy định.

ư– Những ch­ương trình giáo dục – đào tạo và cơ sở đào tạo đạt chuẩn sau khi kiểm định, đư­ợc thông báo công khai cho ng­ười học, ng­ ời sử dụng lao động và toàn xã hội như một bằng chứng bảo đảm cho chất lư­ợng giáo dục – đào tạo của các cơ sở và các ch­ương trình đào tạo.

* ý nghĩa của đánh giá, kiểm định chất lượng

– ý nghĩa của đánh giá:

+ Giúp GV xác nhận thực trạng dạy và học. Giúp giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy, điều khiển hoạt động học để hoàn thiện hoạt động dạy học

+Giúp nhà tr­ường tự đánh giá chất l­ợng dạy học và giáo dục học sinh.

+ Đối với người học: điều chỉnh quá trình học

+ Đối với người quản lý: Nắm được chất lượng của việc dạy, việc học. Điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học

* ý nghĩa.

Kiểm định chất l­ượng mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là sv, hs sự đảm bảo chắc chắn một trư­ờng học đã d­ợc chứng minh thỏa mãn các yêu cầu và tiêu chí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng trư­ờng này sẽ tiếp tục đạt các yêu cầu và tiêu chí đã đề ra.

Kiểm định chất lư­ợng không những mang lại cho cộng đồng bằng chứng về chất l­ượng đào tạo nhà trường mà còn mang lại cơ hội và động cơ để nâng cao chất l­ượng cho các tr­ờng đã qua kiểm định. Một trư­ờng học chỉ đ­ợc công nhận về chất l­ượng khi đáp ứng đ­ược các yêu cầu và tiêu chí của hội đồng kiểm tra và chịu sự kiểm tra của các cán bộ đánh giá giàu kinh nghiệm và hiểu các yêu cầu kiểm định của giáo dục đại học.

Kiểm định chất l­ượng mang lại cho các tr­ường cơ hội tự phân tích đánh giá để có những cải tiến về chất lư­ợng.

Chu Văn Quý @ 14:17 18/01/2011 Số lượt xem: 8175

Định Nghĩa Phong Thủy Là Gì Khái Niệm Theo Khoa Học Nói Về Ý Nghĩa Thực Sự

Phần II. Định nghĩa về phong thủy là gì KPhần III. Định nghĩa về phong thủy là gì Khái niệmPhần IV. Định nghĩa về phong thủy là gì Khái niệm ý nghĩa thực sự theo khoa học Phần V. Định nghĩa về phong thủy là gì Khái niệm ý nghĩa thực sự theo khoa học Phần VI. Định nghĩa về phong thủy là gì Khái niệm ý nghĩa thực sự theo khoa học ý nghĩa thực sự theo khoa học hái niệm ý nghĩa thực sự theo khoa học

Thực ra phong thủy chỉ là nói liên một nửa ý nghĩa, nói đầy đủ phải là Phong thủy địa lý hoặc Địa lý phong thủy. Hiện nay phong thủy có những trường phái Loan Đầu và Khí hay Cảm xạ năng lượng… đều là kiến thức của Địa Lý, nhưng vì ít người học được những bộ môn này nên từ Thầy Địa Lý ít được biết đến. Thầy địa lý khi đi đến một khu nào đó có thể nhìn được long mạch và biết được cả khu dân cư đó thịnh hay suy, đứng ở ngoài đường có thể biết được nhà đó tốt xấu. Nhưng muốn xắp đặt vị trí và phương hướng của các bộ phận trong ngôi nhà phải học cách tính các hệ toán học Nhị phân – Ngũ hoàng – Thập phân trong Phong thủy. Như vậy Thầy phong thủy chỉ cần Thông thạo kiến thức trong sách là có thể làm được, nhưng Thầy địa lý phải có khả năng về Tâm linh, nhưng cũng phải học về địa hình địa thế. Nhưng một người giỏi thực sự phải giỏi cả hai bộ môn, lúc này gọi là Thầy Địa lý Phong thủy hoặc thầy phong thủy địa lý.

Định nghĩa Phong thủy là tên đặt cho Một Lĩnh Vực khoa học phương đông, cơ sở khoa học của phong thủy là hệ toán học Nhị phân – Ngũ hoàng – Thập phân. Kết hợp kiến thức Phong thủy và Địa Lý con người có thể biết được quy luật của Thiên Địa Nhân để chỉ cho con người những nguyên lý xây dựng và tu tạo Dương Trạch và Âm Trạch được tốt nhất.

Khi phân tích cơ sở khoa học của phong thủy, vạn vật trong vũ trụ đều được chia thành Âm và Dương, chính là hệ toán học nhị phân mà bây giờ quy định là số 0 và 1, hiện nay tất cả các thiết bị thông minh đều dùng hệ toán nhị phân: điện thoại – ti vi – máy tính… Phong thủy sau khi phân thành âm và dương, vạt vật đều được quy chiếu theo hệ Ngũ hoàng, đó chính là Ngũ hành, đơn giản nhất là Năm tháng ngày giờ sinh của một người đều được chia ra Thiên Can và Địa Chi có ngũ hành là gì, ngũ hành đó âm hay dương. Tiếp đến phong thủy áp dụng hệ toán học thập phân, chính là hệ cửu tinh luân chuyển theo Tam nguyên cửu vận.

Trong bộ môn phong thủy có 5 loại ngũ hành là kim thủy mộc hỏa thổ, mà lại đề cập đến gió là vì sao. Cặp từ Phong thủy với ý nghĩa là chỉ những hiện tượng là nhìn thấy như là nước và không nhìn là gió; nước là nhìn thấy được và chuyển thành hơi nước, các yếu tố ánh nắng, nhiệt độ, khí áp tạo thành gió mang hơi nước, rồi tạo ra mưa lại ngưng tụ thành nước. Mà cái nhìn thấy và không nhìn thấy con người đều cảm nhận được, đang tác động vào chúng ta hàng ngày. Giữa các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết và trao đổi – biến đổi qua lại với nhau. Con người chúng ta ai Cái gì “nhìn – nghe – nếm – ngửi – sờ” thấy thì bảo có, còn không thì bảo là không có, rồi cho rằng là mê tín.

Tôi xin ví dụ về những thứ có xung quanh ta mà chúng ta không thấy, mà 100 năm trước cho là mê tín: Xung quanh chúng ta có vài chục loại sóng Điện thoại – Truyền hình – Đài – Vệ tinh – wifi… trước đây nói ngồi đây 3 giây vừa nghe vừa nói vừa thấy người ở bên kia địa cầu, có mê tín không, có chứ; nhưng bây giờ thì không, chỉ bẳng điện thoại là làm được. Khi hút 1 điều thuốc là có khoảng 4000 chất bay quanh chúng ta mà lúc đầu thấy sau lại không thấy, đó là sự qua lại giữa thấy và không…

Thông qua sự phân tích ở trên, để mọi người hiểu không thể tách từ Phong Thủy thành hai từ Phong và Thủy, hay định nghĩa rời rạc “phong là gió và thủy là nước”

Phong Thủy thực sự không chỉ đơn giản là Hướng Nhà Hợp tuổi hay không hợp và Màu Sắc theo ngũ hành hợp hay không. Theo tôi quan trọng hơn cả là sự cân bằng về âm dương và thế của một ngôi nhà.

Trên mạng bây giờ hoặc các thầy đọc sách xem cho người chuẩn bị làm nhà như sau: Tuổi này hợp 4 hướng này, kỵ 4 hướng kia, phân ra đông tây tứ trạch. Ban thờ – bếp – giường – bàn quay về hướng tốt, WC – bể phốt đặt ở cung xấu. Rồi nhiều nhà cung xấu ở mặt tiền cũng bắt người ta phải đặt bể phốt ra trước nhà, hướng tốt ở sau nhà cũng bắt ban thờ quay ra đằng sau, như thế là không hiểu biết về phong thủy.

Phong thủy phổ cập hiện nay là phong thủy phái bát trạch, là một trường phái sơ cấp của phong thủy. Bất kể ai có trí tuệ khá, tôi chỉ cần dạy 3 ngày cũng có thể thông thạo phong thủy phái bát trạch. Quan điểm nhà hướng tốt xấu ở đây mới chỉ có nhìn nhận đánh giá theo một trường phái sơ cấp là phong thủy bát trạch. Nhưng kiến thức Cao cấp của phong thủy nằm ở các trường phái Loan Đầu, Huyền không, Tam hợp, dương trạch tam yếu, khí, tứ trụ… Mỗi trường phái phong thủy là chỉ là một chương mục trong tổng thể kiến thức Địa lý Phong thủy, cũng giống như một mảnh ghép nhỏ trong một bức tranh lớn mà thôi.