Chữ Cồ Trong Quốc Hiệu Đại Cồ Việt

--- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Sự Ra Đời, Vị Trí Và Vai Trò Của Nhà Nước Đại Cồ Việt (Thời Đinh) Trong Tiến Trình Lịch Sử Dân Tộc
  • Ý Nghĩa Của Lá Cờ Quốc Gia Việt Nam Trong Trái Tim Người Dân
  • Lá Cờ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Có Ý Nghĩa Gì Đặc Biệt?
  • Ý Nghĩa Lá Cờ Của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam
  • Ý Nghĩa Và Thời Điểm Mặc Áo In Hình Cờ Việt Nam Hợp Lý
  • Học giả An Chi: Chúng tôi đã năm lần nói về chữ “cồ” trong quốc hiệu “Đại Cồ Việt”. Lần đầu tiên là trên số 353 (1-6-2000), chúng tôi đã trả lời ngắn gọn rằng, ở đây, “cồ” không phải là một chữ Nôm nhưng vẫn còn cho rằng nó là âm xưa của chữ Hán 巨, mà âm Hán Việt hiện đại là “cự”, có nghĩa là to, lớn. Lần thứ hai là trên Kiến thức Ngày nay số 599 (1-4-2007), chúng tôi đã nhận xét về ý kiến của Kỳ Quảng Mưu 祁广谋 trong bài “Đại Cồ Việt quốc danh thích”, đăng trên Đông Nam Á tung hoành 东南並 纵橫 năm 2000 (tr.35-38), cho rằng cồ là một chữ Hán, có nghĩa gốc là: 1. dáng nhìn sợ hãi; 2. kinh ngạc, lo sợ. Cách giảng trịch thượng, ngu xuẩn này hẳn làm hài lòng bọn bá quyền, bành trướng. Sau khi bác bỏ ý kiến của họ Kỳ, chúng tôi đã chứng minh rằng “cồ” là hình thức nói tắt của Cồ Đàm Ma, họ của Đức Phật Thích Ca, phiên âm từ tiếng Sanskrit Gautama. Vậy Đại Cồ Việt là nước Việt vĩ đại theo đạo Phật. Nhưng có một tác giả là Nguyễn Anh Huy đã chính thức bác chúng tôi và “thách” chúng tôi phải trả lời. Chúng tôi đã trả lời chi tiết trên số 4-2009. Đó là lần thứ ba. Lần thứ tư là trên Đương thời số 8-2009, chúng tôi đã bác ý kiến của tác giả Huỳnh Dõng cho rằng cồ là một chữ Hán, có nghĩa là “núi non lởm chởm, hiểm trở, bao quanh bởi sông nước cuộn trào”. Lần thứ năm là trên An ninh Thế giới số 918 (16-12-2009), chúng tôi đã nhận xét và phản bác ý kiến của tác giả Tạ Chí Đại Trường cho rằng “quốc hiệu Đại Cồ Việt chẳng văn hoa tí nào”.

    Lần này là lần thứ sáu. Vừa mới đây, chúng tôi có nhận được từ chuyên gia Hán Nôm trẻ Nguyễn Tuấn Cường đường liên kết trên Facebook để đọc bài “Về quốc hiệu đời nhà Đinh” của GS Nguyễn Tài Cẩn ( chúng tôi ngày 31-5-2009). Trước khi trình bày rõ quan điểm của mình để trả lời bạn, chúng tôi xin mạn phép phân tích kỹ điểm quan trọng nhất mà chúng tôi không thể đồng ý với giáo sư.

    Điểm quan trọng đầu tiên mà chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với GS Nguyễn Tài Cẩn là ở chỗ, ông cho rằng Cồ Việt là “nước Việt hùng mạnh có thứ vũ khí gọi là cồ” (Giả thuyết I). Ngay từ đầu giả thuyết, GS Cẩn đã khẳng định một cách võ đoán rằng “giả thuyết này, nhìn chung, khá quen thuộc”. Nhưng rõ ràng là nó mới được tung ra, cho nên gần cuối đoạn thì chính ông Cẩn đã phải nói rõ rằng đây là một cách hiểu thứ ba do Nguyễn Anh Huy mới đề xuất thêm. Thế là ông đã bất nhất ngay từ đầu. Ông Cẩn đề nghị dành ưu tiên cho cách hiểu “mới mẻ này” vì ba lý do, mà lý do đầu tiên là: “Nó hợp với thời đại: theo Nam Hải dị nhân, Đinh Bộ Lĩnh có gươm, vậy thời đại nỏ thần đã chuyển sang thời đại gươm giáo.”

    Tóm lại, với chúng tôi, mặc dù có cả sự tăng cường về lý luận của GS Nguyễn Tài Cẩn, thuyết “cồ = vũ khí” của tác giả Nguyễn Anh Huy vẫn không thể dùng được. Tại những nguồn thư tịch đã nói, chúng tôi đã phân tích và chứng minh rằng Đại Cồ Việt là một kiểu đặt tên toàn Hán, mà Cồ Việt là một danh ngữ có cấu trúc cú pháp giống như Âu Việt, Lạc Việt, Dương Việt, Điền Việt, Mân Việt, v.v… trong đó Cồ, Âu, Lạc, Dương, Điền, Mân là định ngữ của Việt. Cồ là hình thức nói tắt lần thứ hai của Cồ Đàm Ma, mà hình thức nói tắt lần đầu là Cồ Đàm, họ của Đức Phật Thích Ca, phiên âm từ tiếng Sanskrit Gautama. Vậy Cồ Việt là “nước Việt lấy đạo Phật làm quốc giáo”. Và Đại Cồ Việt là “nước Việt vĩ đại lấy đạo Phật làm quốc giáo”. Quốc hiệu này cho thấy sự sáng suốt của Vua Đinh từ đối nội đến đối ngoại. Về đối nội, sử gia Đào Duy Anh cho biết:

    “Đinh Bộ Lĩnh chỉ có thể dựa vào tập đoàn phong kiến tôn giáo là thành phần xã hội có uy tín nhất trong xã hội bấy giờ để duy trì trật tự và kỷ cương. Nhưng trong hai tôn giáo, Phật và Đạo, đều thịnh hành trong dân gian, thì Phật giáo có tổ chức và qui củ vững vàng hơn, có kinh điển và lễ nghi nghiêm trang hơn, chứ Đạo giáo thì chỉ là một mớ phương thuật và mê tín. Về tổ chức cũng như về tinh thần, Phật giáo là yếu tố thống nhất đắc lực nhất thời bấy giờ. Bởi thế Đinh Tiên Hoàng mới lấy Phật giáo làm quốc giáo, định phẩm cấp tăng nhân để giao cho họ lãnh đạo Phật giáo trong toàn quốc (AC nhấn mạnh). Khuông Việt đại sư tham gia triều chính như một vị tể tướng. Các chùa (tự viện) của Nhà nước do các tăng quan trụ trì đều được cấp ruộng làm tự điền. Các tự viện có những đại điền trang không kém gì đại điền trang của bọn vương công đại thần”. ( Lịch sử Việt Nam, q. thượng, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1958, tr.175).

    Chủ trương của Đinh Tiên Hoàng về đối nội như thế thật là cực kỳ sáng suốt. Về đối ngoại, ông cũng tinh tế không kém. Ta nên nhớ rằng, đồng thời với nước Đại Cồ Việt thì, nằm dọc theo bờ biển phía nam Trung Quốc thời Ngũ đại Thập quốc (bên Tàu), là nước Nam Hán, tồn tại từ 917 đến 971. Trong năm đầu tiên, Nam Hán được đặt tên là Đại Việt. Đến năm 968, khi quốc hiệu Đại Cồ Việt ra đời thì Nam Hán đã tồn tại được 49 năm còn tên cũ của nó là Đại Việt thì đã bị bỏ từ 48 năm rồi. Nhưng Đinh Tiên Hoàng là một vị vua nhìn xa trông rộng. Ông đâu có quên chuyện quân Nam Hán sang xâm lược nước ta hồi 937 (mà bị Ngô Quyền đánh cho tơi bời trên sông Bạch Đằng). Dã tâm xâm lược của chúng có bao giờ nguội tan. Cho nên, nếu Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là “Đại Việt” thì chẳng hoá ra ông mời chúng sang “đòi lại đất cũ của Nam Hán” hay sao? Sự gian manh của bọn này thì ta còn lạ gì (nhất là nếu ta liên hệ tới tình hình biển Đông hiện nay)! Vì thế nên phải có một định ngữ trước từ Việt của ta để phân biệt với “Việt” cũ của Nam Hán. Đó là chữ , họ của Đức Phật Thích Ca. Vậy Cồ Việt là nước lấy đạo Phật làm quốc giáo. Đây cũng là một sự thật lịch sử. Đến 1054, khi Lý Thánh Tông đổi Đại Cồ Việt thành Đại Việt thì Nam Hán, tức Đại Việt cũ bên Tàu, đã bị tiêu diệt được 83 năm. Cái nguy cơ làm cho Đinh Tiên Hoàng phải dè chừng, từ lâu đã không còn nữa. Cái thế của nước ta đã khác. Ta nên nhớ rằng năm 1075, Lý Thường Kiệt còn đem quân sang đánh Tống nữa kia mà. Huống chi, tuy đạo Phật vẫn được tôn sùng nhưng bây giờ Nho giáo đã bắt rễ khá sâu trong xã hội Việt Nam, nhất là từ khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long (1010). Chữ Cồ đã xong nhiệm vụ từ đối nội (trong nước, Nho giáo bắt đầu thịnh) đến đối ngoại (không còn sợ họa “đòi đất” vì hai chữ “Đại Việt”).

    Thế là chữ Cồ trong Đại Cồ Việt đã hoàn thành sứ mệnh của nó một cách vẻ vang. Nó đã có mặt trong quốc hiệu 86 năm (968-1054), từ Đinh Tiên Hoàng đến Lý Thánh Tông, với tư cách là một yếu tố biểu hiện thể chế tôn giáo của nước nhà: nước Việt lấy Phật giáo làm quốc giáo.

    A.C

    --- Bài cũ hơn ---

  • 25 Năm Việt Nam Tham Gia Asean: Chung Tay Vì Một Cộng Đồng Asean Gắn Kết Và Thích Ứng
  • Việt Nam Tham Gia Asean: Một Quyết Định Đúng Đắn, Có Ý Nghĩa Lịch Sử
  • Tên Hà Việt Anh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Phạm Việt Anh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Việt Anh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Ngày Quốc Khánh Việt Nam 2/9 Có Ý Nghĩa Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Ngày Quốc Khánh Đối Với Đất Nước Nhật Bản Và Với Các Bạn Đi Xuất Khẩu Lao Động Nhật Bản.
  • Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Ngày Quốc Khánh 2/9
  • Ý Nghĩa Của Ngày Quốc Khánh 2/9
  • Tên Nguyễn Quốc Khánh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Quốc Khánh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Ngày Quốc khánh Việt Nam là ngày lễ chính thức của Việt Nam, diễn ra vào ngày 2/9 hằng năm, kỷ niệm sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

    Ngày Quốc khánh Việt Nam 2/9 có ý nghĩa gì?

    Ngày 2/9/1945, trên lễ đài lớn tại quảng trường Ba Đình lịch sử, trước cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời, trang trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và toàn thể nhân loại trên thế giới, bắt đầu từ nay Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống phát xit mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập….

    Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy“.

    Ngày Quốc khánh Việt Nam 2/9/1945 mở ra kỷ nguyên mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình trở thành công dân của một nước tự do và độc lập. 75 năm qua là cả một quá trình phấn đấu hy sinh đầy gian khổ, không tiếc của cải và cả xương máu của dân tộc, vừa kháng chiến vừa kiến quốc để bảo vệ và xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam hôm nay.

    Ngày nay đất nước ta lớn mạnh hơn gấp nhiều lần, Việt Nam trở thành một quốc gia có uy tín trên trường quốc tế.

    Kỷ niệm 75 năm ngày Quốc khánh Việt Nam 2/9, mỗi người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu, cũng không khỏi xúc động bồi hồi, khi nhớ lại khí thế đầy hào hùng, sôi sục và náo nức của những ngày đầu cách mạng, đặc biệt là ngày Quốc khánh 2/9/1945 lịch sử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Vụ Tổ Chức Lễ Khánh Thành Cầu, Công Trình Trọn Gói
  • Tổ Chức Lễ Khánh Thành Trọn Gói
  • Ý Nghĩa Của Lễ Khánh Thành Và Các Bước Tổ Chức
  • Ý Nghĩa Của Lễ Khánh Thành
  • Lễ Khánh Thành Là Gì? Ý Nghĩa Và Cách Tổ Chức Đạt Hiệu Quả
  • Ý Nghĩa Quốc Huy Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Quốc Kỳ Và Quốc Huy Nước Việt Nam Hiện Nay
  • Lễ Hội Truyền Thống Trong Đời Sống Người Việt
  • Lễ Hội Truyền Thống: Đâu Là Giá Trị Của Thời Hiện Đại?
  • Quốc Kỳ Việt Nam: Ý Nghĩa Và Lịch Sử
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Phụ Nữ Việt Nam 20/10
  • Để hiểu rõ ý nghĩa quốc huy Việt Nam, bài viết sẽ phân tích cấu tạo, hình thức của quốc huy.

    Trước hết là hình ngôi sao vàng 5 cánh đặt ở trung tâm nền đỏ của quốc huy. Màu đỏ tượng trưng cho nhiệt huyết chiến đấu, là máu của các anh hùng liệt sĩ đã xả thân cứu nước và màu vàng là màu da của người Việt Nam. 5 cánh của ngôi sao là đại diện cho năm tầng lớp: sĩ, nông, công, thương, binh cùng hợp lại, đoàn kết chống lại kẻ thù, xây dựng đất nước.

    Hình ảnh bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho nông nghiệp, bánh xe tượng trưng cho công nghiệp khẳng định: Việt Nam là nước liên minh công – nông và luôn đoàn kết cùng nhau để xây dựng đất nước phát triển hơn.

    Mang ý nghĩa là biểu tượng của đất nước, của dân tộc, Quốc Huy là vật phẩm thường được các nhà lãnh đạo, người làm trong cơ quan nhà nước dùng để làm quà biếu tặng. Vì vậy, ý nghĩa quốc huy Việt Nam mang ý nghĩa lịch sử dân tộc vượt thời gian.

    Quốc huy bằng đồng chế tác thủ công thường được treo tại các cơ quan công quyền của nhà nước, trong các phòng họp của các đơn vị, văn phòng đoàn thể,…

    2. Hình mẫu chuẩn của Quốc Huy Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Theo điều 13 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Khi chế tác , các nghệ nhân thường dùng các quy chuẩn: Hai bông lúa chín màu vàng sẫm uốn cong, đặt trên nền vàng tươi, tượng trưng cho nông nghiệp; Một bánh xe răng cưa màu vàng tươi đặt ở giữa hai bó lúa buộc chéo, tượng trưng cho công nghiệp; Một băng đỏ có chữ “Việt Nam dân chủ cộng hoà” màu vàng quấn bánh xe và hai bó lúa với nhau; Trong lòng là hình lá cờ vàng tươi trên nền đỏ tươi; Các màu vàng ở mẫu quốc huy có thể thay bằng màu vàng kim nhũ.

    Tùy theo yêu cầu mà kích thước của quốc huy có sự khác nhau. Với các không gian như: trụ sở, tỉnh ủy, ủy ban, Quốc huy thường lớn để treo trước cửa chính của hội trường, quốc huy nhỏ có thể trưng bày trong văn phòng, cơ quan, đoàn thể. Với ý nghĩa quốc huy Việt Nam sâu sắc nên cũng được chế tác với kích thước mini để làm vật trang trí để bàn hoặc quà tặng đối tác nước ngoài.

    3. Quốc huy Việt Nam bằng đồng đẹp, đa dạng kích thước tại cơ sở Đúc Đồng Quang Hà

    Quốc huy Việt Nam thường được làm từ đổng bởi đồng có độ bền và độ đẹp khi chế tác thành phẩm. Hơn nữa, quốc huy thường được trưng bày ngoài trời mà đồng không bị oxy hóa, hoen gỉ nên quốc huy bằng đồng đỏ hoặc đồng vàng được ứng dụng nhiều nhất.

    Tuy nhiên, đồng phải là nguyên chất thì mới đảm bảo chất lượng và độ bền. Nhưng không phải khách hàng nào cũng biết cách nhận biết đồ bằng đồng thật và giả.

    Vì vậy, tốt nhất, khách hàng nên đến các cơ sở đúc đồng lâu năm, cửa hàng uy tín như Đồ đồng Quang Hà, Đồ đồng Dương Quang Hà, Đồ đồng Tâm Phát để tham khảo các mẫu quốc huy đẹp.

    Các mẫu quốc huy Việt Nam bằng đồng đẹp, đa dạng kích thước tại cơ sở Đúc đồng Quang Hà:

    Với những phân tích về ý nghĩa quốc huy Việt Nam và các mẫu quốc huy đẹp của Đúc đồng Quang Hà, hi vọng sẽ mang lại sự lựa chọn hài lòng nhất cho khách hàng.

    Nếu quý khách có nhu cầu về các sản phẩm đồ đồng, xin vui lòng liên hệ tại:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Ngày 20/11
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Gia Đình Việt Nam (28/6)
  • Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Ngày Gia Đình Việt Nam
  • Giọng Hát Việt Nhí Không Đối Thủ?
  • Tập 11 Giọng Hát Việt Nhí Thú Vị Với Nội Dung Về Môi Trường
  • Ban Đã Biết Gì Về 10 Ý Nghĩa Quốc Hoa Việt Nam?

    --- Bài mới hơn ---

  • Suy Nghĩ Của T Về 1108
  • G.c.f Và Park Jimin
  • Ý Nghĩa Tên Minh Khang Là Gì? Đặt Tên Đệm Cho Tên Khang Hay
  • Khám Phá Ý Nghĩa Tên Minh Khang Có Gì Thú Vị?
  • Ý Nghĩa Tên Miên Là Gì & Đặt Tên Miên Hay Nhất Dành Cho Con
  • Thiếu nữ xinh đẹp bên những đóa sen hồng

    Nguồn gốc của hoa sen

    Nguồn gốc của hoa sen bắt đầu từ đâu? Cây sen là loài thực vật hạt trần xuất hiện khá sớm, nhanh chóng phát triển trên trái đất. Nguồn gốc ra đời của hoa sen được bắt đầu từ Ấn Độ rồi lan rộng ra các nơi khác.

    Những đóa hoa gần bùn nhưng chẳng hôi tanh mùi bùn

    Ở châu Âu thì hoa sen được trồng để trang trí, làm đẹp. Còn ở châu Á thì ngoài việc trang trí nó còn được trồng để làm thực phẩm hay vị thuốc. Hầu hết các bộ phận của hoa sen đều có những công dụng cụ thể khác nhau.

    Ở Việt Nam, sen biểu tượng cho Phật và là quốc hoa.

    Thiếu nữ bên bình sen

    Đặc điểm của hoa sen

    Bạn có thể bắt gặp những cánh đồng sen trải dài khắp mọi miền đất nước Việt Nam. Từ miền Bắc cho tới miền Nam thì đâu đâu cũng có mặt loài hoa này. Hoa sen có giá trị về kinh tế cũng như thẩm mỹ nên được trồng rất nhiều. Sen có các đặc điểm nổi bật như:

    • Là loài thực vật thủy sinh, thích hợp trồng ở vùng đầm lầy, vùng trũng.
    • Thân cây sen là dạng cây rễ hình trụ dài, có gai tù quanh thân.
    • Thân sen mọc ngầm dưới bùn là dạng củ, rễ được mọc từ củ sen nhánh.
    • Lá sen to có gân toả ra xung quanh, lá vươn cao mọc phía trên mặt nước. Lá màu xanh đậm, cuống lá dài, có gai nhỏ.
    • Hoa sen được mọc từ đài sen. Các cánh hoa xếp chồng ôm chặt lấy nhau. Hoa sen có nhiều màu sắc khác nhau.
    • Quả sen hay hạt sen là các hạt nằm trong đài sen, được dùng làm thực phẩm.

    Người đẹp phương tây mê mẫn với những đóa hoa sen

    Ý nghĩa hoa sen

    Ý nghĩa của hoa sen trong Phật giáo là sự trí tuệ, từ bi, đức hạnh, thuần khiết. Chính vì thế hình ảnh Đức Phật, Quan Âm ngự trên toà sen rất quen thuộc.

    Mang nhiều ý nghĩa to lớn cũng như là loài hoa của vùng nhiệt đới. Hoa sen còn được chọn là Quốc hoa của Việt Nam. Hình ảnh tà áo dài Việt bên hoa sen có lẽ là hình ảnh rất đặc trưng của nước ta. Loài hoa gần bùn mà chẳng tanh mùi bùn, vừa đẹp vừa thơm nhẹ nhàng vẫn say đắm lòng người.

    Người đẹp và Hoa

    Ý nghĩa màu sắc của hoa sen

    “Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

    Những câu thơ trên đã mô tả ngắn gọn, súc tích nhất về vẻ đẹp của hoa sen. Là loài hoa đẹp nhất trong các loài hoa mọc nơi chốn bùn lầy. Màu sắc hoa sen khác nhau sẽ mang những ý nghĩa khác nhau.

    – Hoa sen xanh: Là màu hoa tượng trưng cho trí tuệ, kiến ​​thức rộng mở.

    – Hoa sen trắng: Là màu hoa tượng trưng cho sự tinh khiết, tịnh tâm trong tâm hồn con người.

    – Hoa sen hồng: Là màu hoa tượng trưng cho sự cao quý, thuần khiết.

     – Hoa sen đỏ: Là màu hoa tượng trưng cho trái tim, có ý nghĩa tình yêu chung thuỷ, sự từ bi.

    Các bài thơ hay về hoa sen

    Bài 1

    Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh, bông trắng lại chen nhuỵ vàng

    Nhuỵ vàng, bông trắng, lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

    Bài 2

    Thân chị như cánh hoa sen,

    Chúng em như bèo bọt chẳng chen được vào.

    Lạy trời cho cả mưa rào,

    Cho sấm, cho chớp, cho bão to gió lớn,

    Cho sen chìm xuống, bèo trèo lên trên!

    Bài 3

    Hoa sen mọc bãi cát lầm

    Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen

    Thài lài mọc cạnh bờ sông

    Tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài lài

    Bài 4

    Bao giờ sen mọc biển đông

    Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi

    Bài 5

    Nhân tài như thể bách hoa

    Hoa sen thơm ngát hoa trà đẹp tươi

    Bài 6

    Nụ cười như thể hoa ngâu

    Cái khăn đội đầu như thể hoa sen

    Bài 7

    Lên chùa bẻ một cành sen

    Ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng giăng.

    Bài 8

    Hoa sen sao khéo giữ màu,

    Nắng nồng không nhạt, mưa dầu không phai.

    Bài 9

    Rủ nhau ra tắm hồ sen,

    Nước trong bóng mát, hương chen cạnh mình.

    Cứ chi vườn ngọc, ao quỳnh

    Thôn quê vẫn thú hữu tình xưa nay

    Bài 10

    Xuống đồng ngắt lá rau xanh,

    Thấy chim loan phượng đỗ cành sen dâu.

    Người ơi trở lại xơi trầu,

    Tham nơi phú quý bỏ nhau sao đành.

    Bài 11

    Hoa sen mọc bãi cát lầm,

    Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen.

    Thài lài mọc ở ven sông,

    Tuy rằng giống tốt vẫn tông thài lài.

    Bài 12

    Cổ tay em trắng như ngà,

    Đôi mắt em liếc như là dao cau.

    Miệng cười như thể hoa ngâu,

    Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.

    Bài 13

    Bấy lâu còn lạ chưa quen,

    Hỏi hồ đã có hoa sen chưa hồ?

    Hồ còn leo lẻo nước trong,

    Bấy lâu chỉ dốc một lòng đợi sen!

    Bài 14

    Sen xa hồ sen khô hồ cạn,

    Lựu xa đào lựu ngả lựu nghiêng.

    Vàng cầm trên tay rớt xuống không phiền,

    Chỉ phiền một nỗi tơ duyên không tròn.

    Bài 15

    Hôm qua tát nước đầu đình

    Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen

    Em được thì cho anh xin

    Hay là em để làm tin trong nhà?

    Áo anh sứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâụ

    áo anh sứt chỉ đã lâu

    Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.

    Khâu rồi anh sẽ trả công

    Đến lúc có chồng anh lại giúp chọ

    Giúp em một thúng xôi vò

    Một con lợn béo, một vò rượu tăm.

    Giúp cho đôi chiếu em nằm

    Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeọ

    Giúp em quan tám tiền cheo

    Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau

    Bài 16

    Lá xanh thăm thẳm lòng Bi

    Dũng cành vươn thẳng, thoát ly bùn sình

    Nâng nụ sắc Trí kết tinh

    Nở thành hoa thắm lung linh giữa đời

    Bài 17

    Trên đời gì rẻ bằng Bèo,

    Chờ khi nước lụt, Bèo trèo lên Sen.

    Trên đời gì tốt bằng Sen,

    Quan yêu dân chuộng, rã bèn cũng hư.

    Bài 18

    Búp hoa sen lai láng giữa hồ,

    Giơ tay muốn bẻ sợ trong chùa có sư

    Có sư thì mặc có sư,

    Giơ tay anh bẻ có hư anh đền

    Những bài thơ về hoa sen hay chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa

    Hoa sen – Vũ Hoàng Chương

    Kiều trang phơi phới gót thanh tao

    Đưa đón thời duyên mặc lý đào

    Nhụy một khuôn vàng gương náu bụi

    Cánh ba tầng ngọc tháp vươn cao

    Lòng kia vẫn thẳng dù vương vít

    Hương ấy càng xa lại ngạt ngào

    Biết mặt gió xuân từ mấy độ

    Mà hoa quân tử ý chưa trao

    Sen trắng – Xuân Hoàng

    Không thấy người hái sen

    Chèo thuyền trong nắng sớm

    Đầy một hào sen trắng

    Thơm nức buổi chiều êm

    Tôi về thành phố cổ

    Sau nhiều ngày cách xa

    Gặp mùa sen trắng nở

    Trong hương hè hôm qua

    Phải người không hở Huế?

    Đất ấy và hoa này

    Dẫu chưa lời tâm sự

    Đã nghe vần thơ say

    Nhà ai bên thành nội?

    Muốn sang phải qua hào

    Băng ngang mùa sen trắng

    Gặp một trời thanh cao

    Sen đi vào chiêm bao

    Trắng tinh chiều hương lạ

    Đất cố đô, mùa hạ

    Sông hoá làn nhung rêu

    Thiếu nữ với hoa sen

    Trong đầm gì đẹp bằng sen.

    Lá xanh, bông thắm lại tren nhị vàng.

    Nhị vàng, bông thắm lá xanh.

    Thiếu nữ đẹp tựa như tranh bên hồ.

    Lưng trần, yếm đỏ như tô.

    Nghiêng nghiêng nâng bó sen hồng trên tay.

    Nhìn em ngơ ngác, ngất ngây.

    Môi xinh, mũi dọc, tóc mây mượt mà.

    Làn da trắng nõn, trắng nà.

    Má hồng, dáng ngọc kiêu sa giữa trời.

    Mê li tủm tỉm nàng cười.

    Người, hoa khoe sắc, dạng ngời ý thơ!

    Em và sen

    Hồ nước trong xanh như tĩnh lặng

    Mạn thuyền thiếu nữ và hoa sen

    Áo trắng tinh khôi nhìn e ấp

    Môi hồng căng mộng búp sen tươi

    Quân tử nhìn em lòng say đắm

    Hương sen thoang thoảng như gọi mời

    Em và sen đẹp như tranh vẽ

    Làm cho xao động khách làm thơ…

    Ký ức về hoa sen

    Em làm chi đó cạnh đầm sen

    Nếu muốn ra xa đã có thuyền ?

    Cầu gỗ gập ghềnh em ngã đấy

    Thương người, áo trắng dính bùn đen !

    Nõn nà bông trắng tựa tay em

    Ấp ủ bên trong phấn nhụy mềm

    Vàng rực lung linh hơn cả nắng

    Hừng soi má thắm, mắt mơ huyền.

    Ở giữa bùn đen vẫn ngát hương

    Mặc cho mưa nắng đến khôn lường

    Khuôn đài trinh trắng như em vậy

    Một nét yêu kiều,dễ vấn vương…!

    Đò anh, em xuống, hóa thuyền rồng

    Một khoảng trời xanh điểm sắc hồng

    Xao xuyến lòng anh con sóng dậy

    Như thuyền thấy bến giữa mênh mông

    Tối ấy găp nhau ở bến sông

    Em hôn nhè nhẹ đóa sen hồng

    Khẻ đặt tay anh rồi…chẳng nói…

    Anh hiểu dấu yêu tận đáy lòng !

    Hôn bàn tay nhỏ với bông sen

    Tối ấy trời quê lấp ló đèn

    Năm tháng đi xa còn đọng lại

    Ánh đèn,hoa thắm với tay em…!

    Bông hoa sen

    Hồ rộng mênh mông sóng dạt dào

    Một mình riêng chiếm thú tiêu dao

    Hồng bay muôn dặm hương thơm ngát

    Sóng vỗ nghìn trùng tiết vẫn cao

    Giời đã chiều riêng tây chính trực

    Bùn nào nhơ được vẻ thanh tao

    Hỏi ai chìm đắm trong hồ biếc

    Rẽ nước tung hoa phỏng kiếp nào?

    Sen trắng

    Nụ sen trinh trắng đoan trang

    Như còn e thẹn nắng vàng bình minh

    Nụ sen tình của đôi mình

    Bao giờ nở rộ hồ xinh rạng ngời

    Nhụy vàng hoa trắng chơi vơi

    Chút hồng trang điểm hương trời ý thơ

    Anh về dệt những mộng mơ

    Em về đan ước thêu tơ tình hồng

    Nụ hoa sen trắng trinh trong

    Tình em bền thắm cõi lòng thanh thanh

    Lòng vàng ngọc, mộng mơ xanh

    Một mai nắng tỏa mộng lành đơm hoa

    Mùa sen nở rộ ngàn hoa

    Hồn thơ nắng mộng chan hòa dáng thơ

    Vâng em chín cả mùa mơ

    Hồn anh chan chứa đường tơ sen tình

    An nhiên

    Long lanh những giọt sương mai

    Màu trong tinh khiết trên đài hoa sen

    Nắng hiền bước tới làm quen

    Gió lay động nhẹ thành khoen chuỗi vòng

    Ngẩn ngơ trước cảnh mênh mông

    Hư hư thực thực…thấy lòng an nhiên

    Trời mây cảnh sắc êm hiền

    Hồn như thoát tục về miền hư vô

    Quên đi ngoại cảnh xô bồ

    Tâm linh nếm vị Cam Lồ Mẹ ban

    Bước kinh hành rất nhẹ nhàng

    Thân Tâm vút tận mây ngàn non tiên

    Hương sen tình nồng

    Hương sen thoang thoảng…. ngọt ngào

    Hòa cùng Tóc mây …..quyện vào hồn anh

    Lá sen rực sáng ….long lanh

    Ru anh vào mộng… tình xanh ….ngạt ngào

    Duyên em sen đẹp …thanh tao

    Môi hồng da trắng …yêu sao …Ngọc ngà

    Mắt cười người dáng thướt tha

    Như sen nở rộ …Sắc hoa giửa hồ…..

    Anh xin làm kẻ mộng hồ …

    Và là thi sỉ Dệt tô …lời tình …

    Tình anh đỏ thắm …dáng hình

    Tim ngân vang khúc ….xuân tình chứa chan……

    Soi gương

    Trên cầu bên những cánh hoa sen.

    Nghiêng đầu soi bóng hình em dưới đầm.

    Sen thơm toả ngát hương trầm.

    Bên cầu dệt lụa thương thầm nhớ ai ?

    Nghiêng mình soi bóng nguyên đài.

    Một nàng thiếu nữ hình hài cảnh tiên.

    Hỏi người con gái nhân duyên.

    Tình em có hẹn thuyền quyên xuôi dòng.

    Bao chàng trai muốn nặng lòng.

    Duyên kia có hé nghĩa lòng mới trao.

    Em ngồi soi bóng cầu ao.

    Tình duyên em gửi anh trao mặn nồng.

    Ghen

    Có người con gái mến thương

    Yêu hoa sen nở thơm hương chiều hè

    Mắt em ánh mắt tròn xoe

    Lung linh mặt nước em xòe ngón tay.

    Mấy lần dạo bước Hồ Tây

    Thấy em đưa ngón tay cời ngọn hoa

    Tim anh như muốn vỡ òa

    Đôi tay em đẹp nõn là hái sen.

    Em đừng để đất trời ghen

    Để anh còn ngắm hoa sen chiều hè

    Sen và em

    Thu đã về đậu kín những hàng cây

    Nhuốm vàng au lên từng chiếc lá

    Hạ trốn biệt sau tháng ngày hối hả

    Đổ mồ hôi in sóng muối lưng người!

    Những đầm sen rệu rã lặng bên trời

    Vẫn nuối tiếc cái xuân thì chưa thỏa

    Bông sen cuối mùa cô đơn buồn bã

    Đâu biết mình đang cứu cả mùa đi!

    Cô láng giềng trốn mẹ đón bình minh

    Mượn sương sớm che lấp mình trước nắng

    Tiếc sen hồng thổn thức lòng…mắt ngấn!

    Khói mặt hồ chờm mướt má hồng tươi!

    Không còn thấy cô đơn bông sen hé môi cười

    Gương lóng lánh soi khuôn hình thiếu nữ

    Môi em tươi quyện vào sen nóng hổi

    Nắng vén sương ảo ảnh cả khung trời…

    Hồ Tây mùa sen nở

    Sớm mai nào Hồ Tây cũng có sương

    Nắng lên rồi đó đây còn bảng lảng

    Thuyền ai đó trong đầm sen thơm ngát

    Người lẫn trong hoa cho hoa đẹp bội phần.

    Bàn tay ai đưa đón những búp sen

    Nắng chiếu qua làn sương hồng lên như lửa

    Lửa chuyền lên môi lửa chuyền lên má

    Cho nụ cười tỏa sáng cả rừng hoa.

    Hương sen thơm quấn quýt quyện hương trà

    Thơm lây cả tay mình nhớ bàn tay ai ướp

    Như tình ai nồng đượm

    Với ai kia hay chỉ với riêng mình?

    Nhấp ngụm trà lại nhớ nụ cười xinh

    Dáng thon thả in hình trong bóng nước

    Và búp sen hồng trong búp tay em hồng rực

    Một thoáng thôi … vương vấn mãi trong lòng .

    Chào tháng 6

    Tháng Sáu về quê Mẹ

    Sen bát ngát cánh đồng

    Hương dâng lên ngào ngạt

    Nhú từng bông, từng bông…

    Sáo vi vút triền sông

    Trâu rắc trên đồng cỏ

    Lom khom chú mục đồng

    Hái sen từng nắm nhỏ.

    Chúng co cẳng đuổi nhau

    Miệng nhai sen bem bép

    Mồm cười toe cười toét

    Rách cả vành mũ sen!

    Gió đuổi dọc triền sông

    Lữ khách nghe mát rượi

    Say sưa ngắm hương đồng

    Bình yên lòng thầm hỏi…

    Có nẻo nước non nào

    Bâng khuâng bằng quê mẹ

    Có mảnh gấm vóc nào

    Đượm hồn quê đến thế?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Doraemon Là Gì? Ý Nghĩa Tên Nhân Vật Trong Doraemon
  • Hiểu Ngay Tiểu Sử Blackpink Và Blackpink Thành Viên Chỉ Với 5 Phút
  • Blackpink Là Ai? Blink Là Gì? Fandom Của Blackpink Tên Là Gì?
  • Zip Code Là Gì? Mã Bưu Chính 63 Tỉnh
  • Sự Thật Về Chuyện Thây Ma Sống Lại
  • Ý Nghĩa Quốc Kỳ Và Quốc Huy Nước Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Lễ Hội Truyền Thống Trong Đời Sống Người Việt
  • Lễ Hội Truyền Thống: Đâu Là Giá Trị Của Thời Hiện Đại?
  • Quốc Kỳ Việt Nam: Ý Nghĩa Và Lịch Sử
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Phụ Nữ Việt Nam 20/10
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3
  • Quốc kỳ Việt Nam là lá cờ đại diện cho nước Việt Nam thống nhất. Lá cờ có hình chữ nhật, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Nền cờ đỏ tượng trưng cho cách mạng, màu vàng là màu truyền thống tượng trưng cho dân tộc Việt Nam, và năm cánh sao tượng trưng cho năm tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh cùng đoàn kết. Tuy nhiên, cũng có ý kiến khác cho rằng màu đỏ nền cờ tượng trưng dòng máu đỏ, màu vàng ngôi sao tượng trưng da vàng, và năm cánh tượng trưng cho sự đoàn kết các tầng lớp bao gồm sĩ, nông, công, thương, binh trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

    Quốc kỳ Việt Nam được công nhận từ năm 1976, sau khi Việt Nam thống nhất. Quốc hội khóa VI đã lấy quốc kỳ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với vài sửa đổi nhỏ, làm quốc kỳ chính thức đại diện cho nước CHXHCN Việt Nam.

    Định dạng chuẩn: Quốc kỳ Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Điểm giữa ngôi sao vàng đặt đúng điểm giữa (điểm giao nhau của hai đường chéo) quốc kỳ. Khoảng cách từ điểm giữa ngôi sao đến đầu cánh sao bằng 1/5 chiều dài quốc kỳ. Một cánh sao có trục vuông góc với cạnh dài quốc kỳ và hướng thẳng lên phía trên theo đầu cột treo quốc kỳ. Tạo hình ngôi sao: từ đầu cánh sao này đến đầu cánh sao đối diện là đường thẳng, không phình ở giữa, cánh sao không bầu. Hai mặt của quốc kỳ đều có ngôi sao vàng trùng khít nhau. Nền quốc kỳ màu đỏ tươi, ngôi sao màu vàng tươi.

    Những giả thuyết về tác giả:

    Nguyên mẫu của quốc kỳ Việt Nam hiện nay được ghi nhận xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23/11/1940. Tuy nhiên, dù đã tồn tại hơn 70 năm nhưng tác giả của lá cờ vẫn không được xác định một cách chính xác.

    Mấy chục năm qua, các phương tiện thông tin đại chúng đều nói tác giả quốc kỳ là Nguyễn Hữu Tiến (Hà Nam). Trên website của Quốc hội và của Đảng cũng khẳng định như vậy. Nhưng tất cả đều dẫn nguồn về cuốn sách “Nguyễn Hữu Tiến” mang dấu ấn cá nhân của nhà văn Sơn Tùng năm 1981. Tuy nhiên không có tài liệu, văn kiện nào của Nhà nước trong các viện lưu trữ và bảo tàng chứng minh điều này. Năm 2001, Bộ Văn hóa – Thông tin đã xác nhận không đủ cơ sở chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc.

    Giả thuyết thứ hai do Tỉnh ủy Tiền Giang đề nghị gần đây, đặt lại vấn đề lịch sử và cho rằng ông Lê Quang Sô (Mỹ Tho) mới là tác giả quốc kỳ. Tư liệu của các nhà nghiên cứu và nhân chứng còn sống trong khởi nghĩa Nam Kỳ đều đưa ra những căn cứ rất thuyết phục nhưng không được cấp nhà nước chính thức công nhận. Như vậy, câu hỏi về tác giả lá cờ đỏ sao vàng cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời.

    Quốc huy CHXHCN Việt Nam

    Quốc huy Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh tượng trưng cho lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam và tiền đồ xán lạn của nước Việt Nam. Bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho nông nghiệp, bánh xe tượng trưng cho công nghiệp và chính giữa dải lụa phía dưới là dòng chữ tên nước “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

    Quốc huy Việt Nam hiện nay (nguyên thủy là quốc huy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) được Quốc hội khóa I phê chuẩn năm 1955 từ mẫu quốc huy do Chính phủ đề nghị. Năm 1976, khi đất nước thống nhất, mẫu quốc huy được sửa đổi phần quốc hiệu.

    Do những tranh chấp và nhầm lẫn về tác giả quốc huy suốt nhiều năm, Thủ tướng Phan Văn Khải đã chỉ đạo bộ Văn hóa – Thông tin thành lập tổ tư vấn để giám định tư liệu. Ngày 23/09/2004 Bộ Văn hóa – Thông tin đã thông báo kết luận khẳng định: “Mẫu quốc huy là một cống hiến chung của giới Mỹ thuật Cách mạng Việt Nam, trong đó phải kể đến công lao của họa sỹ Bùi Trang Chước – người đã vẽ những mẫu quốc huy để làm cơ sở lựa chọn, hoàn thiện và họa sỹ Trần Văn Cẩn – người đã chỉnh sửa hoàn thiện mẫu quốc huy theo ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo để trình Quốc hội phê duyệt”.

    Mẫu quốc huy gốc với tên nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III (Bộ Nội vụ) với hai phụ bản in màu và in nét. Đáng tiếc là từ sau năm 1976 do thiếu những quy chuẩn về việc sử dụng và không được phổ biến rõ nên hiện nay đang có tình trạng hình quốc huy không đồng nhất. Hình quốc huy trên đồng tiền, các bằng cấp, huân – huy chương, sách báo, trang thông tin điện tử, trên các trụ sở cơ quan nhà nước… mỗi hình mỗi vẻ.

    Nghiên cứu bản mẫu quốc huy chính thức chúng ta thấy về bố cục, tỉ lệ các hình tượng rất cân đối, hài hòa, vững chắc. Hình dáng, đường nét của các bông lúa, hạt lúa, ngôi sao, bánh xe răng cưa, dải lụa có tên nước Việt Nam được chắt lọc kĩ lưỡng nên rất sinh động, tượng trưng và chuẩn mực. Màu sắc của quốc huy được phối hợp mạch lạc, hài hòa giữa đỏ, vàng và nét nâu. Mẫu quốc huy Việt Nam hoàn chỉnh về hình thức, sâu sắc về nội dung, đã thể hiện cô đọng, súc tích về đất nước và dân tộc Việt Nam, với nền tảng công – nông nghiệp, với lý tưởng cách mạng và tinh thần đại đoàn kết, với khát vọng hòa bình và sự khẳng định chủ quyền thiêng liêng của quốc gia.

    Hình quốc huy các bạn đang xem là mẫu quốc huy chính thức theo công văn 1790/BNV-TCBC của Bộ Nội vụ (ban hành 24/05/2013) gửi các cơ quan hành chính nhà nước về việc sử dụng thống nhất và đồng bộ mẫu quốc huy .

    Nguồn:

    https://mattran.org.vn/home/DatnuocVN/VietNam/CHXHCNVN.htm

    https://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20040929/mau-quoc-huy-la-cua-hs-bui-trang-chuoc-va-tran-van-can/49770.html

    https://thanhnien.vn/thoi-su/quoc-huy-viet-nam-ngay-ay-va-bay-gio-196173.html

    — Sưu tầm và tổng hợp —

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Quốc Huy Việt Nam
  • Ý Nghĩa Của Ngày 20/11
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Gia Đình Việt Nam (28/6)
  • Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Ngày Gia Đình Việt Nam
  • Giọng Hát Việt Nhí Không Đối Thủ?
  • Ý Nghĩa Lịch Sử Của Quốc Kỳ Và Quốc Ca Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Quốc Ca Việt Nam Và Quốc Ca Nhật Bản
  • Vai Trò Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Trong Những Bước Ngoặt Lịch Sử
  • Những Điều Không Phải Ai Cũng Biết Về Ý Nghĩa Áo Dài Truyền Thống Việt Nam
  • Ý Nghĩa Áo Dài Trong Đám Cưới Của Người Việt
  • Cuộc Vận Động “người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam” Dưới Góc Nhìn Văn Hóa
  • Nhạc sĩ Văn Cao đã sống những năm cuối đời tại một căn gác nhỏ trên phố Yết Kiêu, Hà Nội. Tại đây, người thân của ông vẫn đang lưu giữ những kỷ vật về người nhạc sĩ tài hoa, trong đó có bài “Tiến quân ca” được cất giữ như một báu vật của gia đình.

    Tham gia Việt Minh, nhiệm vụ của Văn Cao là viết một ca khúc để cổ vũ tinh thần cho đội quân cách mạng. Và “Tiến quân ca” đã ra đời vào năm 1944 và được in trên báo Độc lập do chính tác giả tự khắc bản nhạc lên phiến đá để in báo. Ngày 13/8/1945 trước khi Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Nhạc sĩ Văn Thao – Con trai cả của cố nhạc sĩ Văn Cao kể lại: “Ông đã nhìn thấy năm đó là năm nạn đói người chết rất nhiều, hàng ngày những xe bò đi thu nhặt xác chết và ông có một cảm xúc, một sự khơi dậy trong tình cảm, lòng căm thù vì sao mà lại có những cái cảnh này xảy ra trên đất nước mình. Vì thế, ông nghĩ là phải có một bài hát nào đó thúc giục chúng ta đứng lên”.

    Còn tại một căn nhà nhỏ khác ở xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, Hà Nam cũng đang lưu giữ kỷ vật về một con người – ông Nguyễn Hữu Tiến, người được cho là tác giả của lá cờ đỏ sao vàng. Kỷ vật ấy là bức tranh ông Tiến phác thảo lá cờ do nhạc sỹ Văn Cao vẽ tặng.

    Bà Nguyễn Thị Xu – Con gái liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến ngậm ngùi: “Khi còn đang hoạt động thì bố tôi vẽ ra mẫu cờ Tổ quốc nên bị bắt tù đầy. Rồi cụ mất lúc tôi hãy còn bé nên không gặp bố lần nào nữa. Ông Văn Cao và ông Sơn Tùng cũng về 1, 2 lần và mang cái ảnh cụ tôi vẽ ra lá cờ Tổ quốc”.

    Ngày 2/9/1945, Tiến quân ca cùng cờ đỏ sao vàng hãnh diện tung bay trong ngày Bác Hồ bố cáo trước toàn thể quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hơn một năm sau, trong Điều 3 của bản Hiến pháp đầu tiên đã quy định Cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh và Quốc ca là bài Tiến quân ca.

    PGS.TS. Phạm Xanh – Nhà nghiên cứu Lịch sử cho biết: “Màu đỏ của lá cờ là màu của cách mạng. Chúng ta giành lấy nền độc lập và giữ nền độc lập bằng máu của nhiều thế hệ dân tộc chúng ta. Ngôi sao vàng là màu của chủng tộc, chủng tộc da vàng, còn 5 cánh của ngôi sao là tựu chung cho sự đoàn kết của dân tộc của 5 lớp người: sĩ, nông, công, thương, binh. Và sự quy tụ đó là của khối đại đoàn kết dân tộc. Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa 1 năm 1946 trước đó có một số phần tử muốn thay Quốc kỳ nhưng cụ Hồ đã nói một lời kiên quyết trong kỳ họp thứ 2 đó rằng quyền đó không phải là quyền của Quốc hội mà là quyền của 25 triệu người dân Việt Nam. Chỉ khi 25 triệu người dân Việt Nam quyết định thay lá cờ, thay quốc ca thì Quốc hội mới có quyền thay”.

    Và sau khi đất nước được thống nhất, mặc dù trong các bản Hiến pháp năm 1959 và 1980 chỉ quy định rõ Quốc kỳ mà không quy định rõ về Quốc ca, nhưng trong phiên họp Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất vào năm 1976, nhạc và lời của bài Tiến quân ca vẫn được Quốc hội quyết định là Quốc ca của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    68 năm kể từ ngày nước Việt Nam có Quốc ca và Quốc kỳ, bài Tiến quân ca và lá cờ đỏ sao vàng đã đi cùng với dặm đường trường chinh dân tộc Việt Nam. Và gần đây, dù có một vài ý kiến đề nghị thay đổi lời của bài Quốc ca, nhưng lời của bài Tiến quân ca thúc giục người Việt Nam tiến lên vì Tổ quốc và lá cờ đỏ sao vàng “in máu chiến thắng mang hồn nước” vẫn tiếp tục được quy định trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 giống như bản Hiến pháp hiện hành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Lá Cờ Việt Nam, Ý Nghĩa Ngôi Sao Năm Cánh Trên Quốc Kỳ Việt Nam
  • Chữ “việt” Của Dân Tộc Việt Có Ý Nghĩa Gì?
  • Việt Nam Và Những Quốc Hiệu Trong Lịch Sử
  • Ý Nghĩa Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11 Có Thể Bạn Chưa Biết?
  • Ý Nghĩa Của Các Loại Hoa Trang Trí Ngày Tết
  • Chú Đại Bi Có Ý Nghĩa Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bỉ Ngạn Là Gì? Truyền Thuyết Về Ý Nghĩa Của Hoa Bỉ Ngạn
  • Di Chúc Của Bác Có Ý Nghĩa Lịch Sử Và Thời Đại Sâu Sắc
  • Giá Trị Và Ý Nghĩa Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Qua Di Chúc
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Như Ngọn Đuốc Soi Đường Cho Dân Tộc
  • Dãy Hoạt Động Hóa Học Kim Loại
  • Chú Đại Bi là thần chú quảng đại viên mãn, thần chú vô ngại đại bi, thần chú cứu khổ. Trí chú này thì diệt vô lượng tội, được vô lượng phước và chết thì sinh Cực Lạc.

    Chú Đại Bi là gì?

    Thần Chú Đại Bi được rút ra từ Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, do chính Đức Phật Thích Ca diễn nói trong một pháp hội trước mặt đông đủ các vị Bồ Tát, Thinh văn, Thánh chúng, Trời, Thần, Thiên, Long, các Đại thánh tăng như Ma-Ha Ca-Diếp, A-Nan… cùng câu hội, tại núi Bồ Đà Lạc Ca (Potalaka), một hải đảo ở về phía Nam xứ Ấn Độ, được coi như là nơi mà Đức Bồ Tát Quán Thế Âm thường trụ tích. Ta có thể tin chắc điều đó bởi vì Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn được mở đầu bằng câu nói quen thuộc của Ngài A Nan “Như thế tôi nghe” cũng như xuyên qua nội dung hỏi đáp giữa ngài A Nan và Đức Thế Tôn đã được ghi lại ở trong kinh.

    Trong pháp hội này, Bồ Tát Quán Thế Âm vì tâm đại bi đối với chúng sanh, muốn cho “chúng sanh được an vui, được trừ tất cả các bệnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được tăng trưởng công đức của pháp lành, được thành tựu tất cả các thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu” mà nói ra Thần Chú này.

    Ngài cho biết lý do ra đời của Thần Chú như sau: Vào vô lượng ức kiếp về trước, Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai, vì tâm thương tưởng đến chúng sanh nên đã nói ra thần chú Đại Bi và khuyến khích Bồ Tát Quán Thế Âm nên thọ trì tâm chú này để mang đến lợi ích an vui lớn cho chúng sanh trong đời vị lai. Bồ Tát Quán Thế Âm lúc bấy giờ mới ở ngôi sơ địa khi nghe xong thần chú này liền chứng vượt lên đệ bát địa. Vui mừng trước oai lực của thần chú, Ngài bèn phát đại nguyện: “Nếu trong đời vị lai, con có thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh với thần chú này, thì xin khiến cho thân con liền sanh ra ngàn mắt ngàn tay”.

    Lập tức, Ngài thành tựu ý nguyện. Từ đó, hình ảnh của vị Bồ Tát Quán Thế Âm ngàn tay ngàn mắt trở thành một biểu tượng cho khả năng siêu tuyệt của một vị Bồ Tát mang sứ mệnh vào đời cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sanh. Ngàn tay, ngàn mắt nói lên cái khả năng biến hóa tự tại, cái dụng tướng vô biên của thần lực Từ bi và Trí huệ tỏa khắp của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngàn mắt để có thể chiếu soi vào tất cả mọi cảnh giới khổ đau của nhân loại và ngàn tay để cứu vớt, nâng đỡ, như Đức Phật giải thích với Ngài A Nan ở trong kinh, “tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các sự mong cầu của chúng sanh”.

    Kinh và Thần Chú Đại Bi sau đó đã được ngài Dà-Phạm-Đạt-Ma (Bhagavaddharma: có nghĩa là Tôn Pháp) một Thiền sư Ấn Độ, du hóa qua Trung Quốc vào niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường dịch và chuyển âm từ tiếng Phạn qua tiếng Trung Hoa và được Hoà Thượng Thích Thiền Tâm chuyển ngữ qua tiếng Việt. Với oai lực và linh nghiệm đã được chứng minh qua không gian và thời gian, Thần Chú Đại Bi đã được trân trọng trì tụng trong các khoá lễ, các nghi thức tụng niệm chính của các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Đại thừa như: Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,…

    Chú Đại Bi có ý nghĩa gì?

    Nếu chúng sanh nào, trong một ngày đêm tụng năm biến chú, sẽ diệt trừ được tội nặng trong trăm ngàn muôn ức kiếp sanh tử.

    Nếu chúng sanh nào xâm tổn tài vật, thức ăn uống của thường trụ sẽ mang tội rất nặng, do nghiệp ác ngăn che, giả sử ngàn đức Phật ra đời cũng không được sám hối, dù có sám hối cũng không trừ diệt. Nếu đã phạm tội ấy, cần phải đối 10 phương đạo sư sám hối, mới có thể tiêu trừ. Nay do tụng trì chú Đại Bi liền được trừ diệt. Tại sao thế? Bởi khi tụng chú Đại Bi tâm đà ra ni, 10 phương đạo sư đều đến vì làm chứng minh, nên tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt.

    Chúng sanh nào tụng chú này, tất cả tội thập ác ngũ nghịch, báng pháp, phá người, phá giới, phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của tăng kỳ, làm nhơ phạm hạnh, bao nhiêu tội ác nghiệp nặng như thế đều được tiêu hết, duy trừ một việc: kẻ tụng đối với chú còn sanh lòng nghi. Nếu có sanh tâm ấy, thì tội nhỏ nghiệp nhẹ cũng không được tiêu, huống chi tội nặng?

    Hàng trời, người nào thường thọ trì tâm chú này như tắm gội trong sông, hồ, biển cả, nếu những chúng sanh ở trong đó được nước tắm gội của người này dính vào thân thì bao nhiêu nghiệp nặng tội ác thảy đều tiêu diệt, liền được siêu sinh về tha phương Tịnh Độ, hóa sanh nơi hoa sen, không còn thọ thân thai, noãn, thấp nữa. Các chúng sanh ấy chỉ nhờ chút ảnh hưởng mà còn được như thế, huống chi là chính người trì tụng?

    Và, như người tụng chú đi nơi đường, có ngọn gió thổi qua mình, nếu những chúng sanh ở sau được ngọn gió của kẻ ấy lướt qua y phục thì tất cả nghiệp ác, chướng nặng thảy đều tiêu diệt, không còn đọa vào tam đồ, thường sanh ở trước chư Phật, cho nên, phải biết quả báo phước đức của người trì tụng chú thật không thể nghĩ bàn!

    Lại nữa, người trì tụng đà ra ni này, khi thốt ra lời nói chi, hoặc thiện hoặc ác, tất cả thiên ma ngoại đạo, thiên, long, quỷ thần đều nghe thành tiếng pháp âm thanh tịnh, đối với người ấy khởi lòng cung kính, tôn trọng như Phật.

    Người nào trì tụng đà ra ni này nên biết người ấy chính là tạng Phật thân, vì 99 ức hằng hà sa chư Phật đều yêu quý. Nên biết người ấy chính là tạng quang minh, vì ánh sáng của tất cả Như Lai đều chiếu đến nơi mình.

    Nên biết người ấy chính là tạng từ bi, vì thường dùng đà ra ni cứu độ chúng sanh. Nên biết người ấy chính là tạng diệu pháp, vì nhiếp hết tất cả các môn các môn đà ra ni. Nên biết người ấy chính là tạng thiền định vì trăm ngàn tam muội thảy đều hiện tiền. Nên biết người ấy chính là tạng hư không, vì hằng dùng không huệ quán sát chúng sanh.

    Nên biết người ấy chính là tạng vô úy vì thiên, long, thiện thần thường theo hộ trì. Nên biết người ấy chính là tạng diệu ngữ vì tiếng đà ra ni trong miệng tuôn ra bất tuyệt. Nên biết người ấy chính là tạng thường trụ vì tam tai, ác kiếp không thể làm hại. Nên biết người ấy chính là tạng giải thoát vì thiên ma ngoại đạo không thể bức hại. Nên biết người ấy chính là tạng dược vương vì thường dùng đà ra ni trị bịnh chúng sanh.

    Nên biết người ấy chính là tạng thần thông vì được tự tại dạo chơi nơi 10 phương cõi Phật. Công đức người ấy khen ngợi không thể cùng.

    Vận dụng Chú Đại Bi vào thiền định

    Muốn đạt đến cứu cánh giác ngộ không thể không thông qua phương pháp thiền định. Nhưng khi nghe nói đến Thiền, một người Phật tử bình thường khó hình dung ra nổi và nghĩ đến nó như là một cái gì đó mông lung, trừu tượng, huyền bí. Thậm chí Phật tử rất hoang mang vì trong thời đại hiện nay, có rất nhiều loại “thiền” khác nhau xuất hiện trên thị trường, được khai thác nhằm mục đích thương mãi hơn là giúp con người đạt đến bến bờ giải thoát, và đôi khi biến Thiền trở thành một cái “mốt” thời thượng làm người ta bối rối và dễ bị mê lầm. Cho nên, để có thể tu tập đúng hướng, hành giả cần phải có một số nhận thức căn bản đúng đắn về các loại Thiền Phật giáo.

    Thanh Tâm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Thích Ý Nghĩa Chú Đại Bi Đơn Giản, Dễ Hiểu Nhất
  • Ý Nghĩa Của Biển Báo Giao Thông Đường Bộ
  • Biển Báo Giao Thông Đường Bộ
  • Ý Nghĩa Chi Tiết Bát Cháo Hành Của Thị Nở
  • 5 Bài Văn Mẫu Ý Nghĩa Bát Cháo Hành Trong Tác Phẩm Chí Phèo Hay, Chọn
  • Quốc Kỳ Việt Nam: Ý Nghĩa Và Lịch Sử

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Phụ Nữ Việt Nam 20/10
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3
  • Vì Sao Trên Lá Cờ Mỹ Có Đúng 50 Ngôi Sao Và 13 Sọc?
  • Khái Niệm Và Ý Nghĩa Về Đường Nét
  • Chỉ Số Ggt Là Gì? Kết Quả Xét Nghiệm Ggt Có Ý Nghĩa Như Thế Nào?
  • Lá quốc kỳ Việt Nam tung bay là hình ảnh đầy xúc động trong lòng mỗi người dân chúng ta. Hiểu về Quốc kỳ là điều mỗi công dân cần biết.

    Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp (23/11/1940). Tác giả sáng tạo ra lá cờ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh này là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5/3/1901 tại Hà Nam, bị địch bắt và bị xử bắn ngày 28-8-1941 cùng các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa tại Hóc Môn, trong đó có cả Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Vǎn Tần, Hà Huy Tập…). Tâm huyết của tác giả khi sáng tạo ra lá cờ Tổ quốc được khắc họa rõ nét trong bài thơ của ông

    Hỡi những ai máu đỏ da vàng

    Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc

    Nền cờ thắm máu đào vì nước

    Sao vàng tươi, da của giống nòi

    Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi

    Hỡi sỹ nông công thương binh

    Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.

    Mỗi một dân tộc, một quốc gia đều có Quốc kỳ riêng của mình. Việt Nam là một dân tộc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; Quốc kỳ Việt Nam là lá cờ đỏ sao vàng, là biểu tượng của hồn nước, lòng dân, của tình đoàn kết đời đời bền vững của đại gia đình các dân tộc Việt Nam và là biểu tượng thiêng liêng nhất, thể hiện nhiệt huyết cách mạng, sự hy sinh anh dũng của toàn thể nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đánh đuổi quân xâm lược, giành chính quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Lá cờ đỏ sao vàng, biểu tượng chung nhất của dân tộc Việt Nam, đã khắc sâu vào tâm khảm của mỗi một người dân Việt Nam và đã được cộng đồng quốc tế công nhận và tôn trọng.

    Lá cờ đỏ sao vàng là một minh chứng khẳng định sự thống nhất, độc lập, tự chủ và hòa bình của dân tộc Việt Nam. Điều đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và lịch sử kiểm chứng trong gần một thế kỷ qua, đó là: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

    Lịch sử và ý nghĩa của lá cờ đỏ sao vàng Việt Nam gắn liền với những năm tháng đấu tranh kiên cường, bất khuất, đổ máu hy sinh anh dũng của nhân dân Việt Nam đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi của Tổ quốc, giành chính quyền, thống nhất đất nước, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn để có được cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc ngày nay.

    Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vã lãnh đạo cách mạng. Thời kỳ đầu, trong các cuộc đấu tranh đã xuất hiện lá cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh nhưng được lồng trên hình búa liềm.

    Năm 1940, Xứ uỷ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Nam kỳ họp quyết định khởi nghĩa, đã thực hiện di huấn của đồng chí Trần Phú – Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng – lấy cờ đỏ sao vàng làm lá cờ khởi nghĩa với ước muốn là sau khi đánh đổ đế quốc Pháp sẽ thành lập nước Việt Nam Cộng hòa dân chủ và quốc kỳ Việt Nam sẽ là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh.

    Tháng 5/1941 tại Khui Nậm, Cao Bằng, Lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị Trung ương VIII quyết định thành lập tổ chức Việt Nam độc Lập đồng minh – đoạn mở đầu chương trình Việt Minh ghi rõ: “Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ”. Đây là văn bản đầu tiên, chính thức quy định Quốc kỳ của nước Việt Nam là cờ đỏ sao vàng.

    Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, Tuyên Quang đã quyết định Quốc kỳ Việt Nam là nền đỏ. ở giữa có một sao vàng năm cánh.

    Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: “Quốc kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”.

    Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, non sông Việt Nam đã liền một dải. Từ ngày 24/6 đến 3/7/1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp tại Thủ đô Hà Nội, đã thông qua nhiều Nghị quyết quan trọng, trong đó công nhận Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

    Nền đỏ tượng trưng cho màu nhiệt huyết cách mạng, màu chiến đấu và chiến thắng; màu vàng của ngôi sao tượng trưng cho sự sáng ngời của linh hồn dân tộc Việt Nam; năm cánh sao là sức mạnh đoàn kết của các tầng lớp đồng bào chiến đấu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

    Quốc kỳ Việt Nam được tung bay trên khắp các công sở, trường học, các Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài, các cửa khẩu, các buổi mít tinh, lễ đón tiếp các đoàn khách cấp cao nước ngoài; Quốc kỳ Việt Nam cũng được giương lên cùng với Quốc kỳ của những nước trên thế giới khi các đoàn cấp cao của chúng ta đến thăm và làm việc. Cờ đỏ sao vàng Việt Nam cũng được tung bay trên từng nóc nhà mỗi một gia đình Việt Nam vào những ngày lễ hội, Tết cổ truyền…

    Nguồn: chúng tôi

    Lá cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ duy nhất đại diện cho dân tộc Việt Nam, điều đó đã khắc sâu vào tâm khảm của mỗi một người dân Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam đã khẳng định tại cuộc họp Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946: “Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồng bào ta trong Nam kỳ khởi nghĩa năm 1940. Chính lá cờ này đã cùng phái đoàn chính phủ đi từ châu á sang châu Âu, từ châu Âu về châu á; cờ đã có mặt trên khắp đất nước Việt Nam. Vậy thì… trừ 25 triệu đồng bào, còn không ai có quyền đòi thay đổi Quốc kỳ và Quốc ca…”. Đó là hồn nước, niềm tự hào, biểu tượng thiêng liêng bất khả xâm phạm của bản sắc dân tộc Việt Nam.

    Định dạng chuẩn

    Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Điểm giữa ngôi sao vàng đặt đúng điểm giữa (điểm giao nhau của hai đường chéo) Quốc kỳ. Khoảng cách từ điểm giữa ngôi sao đến đầu cánh sao bằng một phần năm chiều dài của Quốc kỳ. Một cánh sao có trục vuông góc với cạnh dài Quốc kỳ và hướng thẳng lên phía trên theo đầu cột treo Quốc kỳ. Tạo hình ngôi sao: từ đầu cánh sao này đến đầu cánh sao đối diện là đường thẳng, không phình ở giữa, cánh sao không bầu. Hai mặt của Quốc kỳ đều có ngôi sao vàng trùng khít nhau. Nền Quốc kỳ màu đỏ tươi, ngôi sao màu vàng tươi.

    Hình ảnh giúp thiết kế chuẩn Quốc kỳ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Hội Truyền Thống: Đâu Là Giá Trị Của Thời Hiện Đại?
  • Lễ Hội Truyền Thống Trong Đời Sống Người Việt
  • Ý Nghĩa Quốc Kỳ Và Quốc Huy Nước Việt Nam Hiện Nay
  • Ý Nghĩa Quốc Huy Việt Nam
  • Ý Nghĩa Của Ngày 20/11
  • Ý Nghĩa Lá Cờ Việt Nam, Ý Nghĩa Ngôi Sao Năm Cánh Trên Quốc Kỳ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Lịch Sử Của Quốc Kỳ Và Quốc Ca Việt Nam
  • Quốc Ca Việt Nam Và Quốc Ca Nhật Bản
  • Vai Trò Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Trong Những Bước Ngoặt Lịch Sử
  • Những Điều Không Phải Ai Cũng Biết Về Ý Nghĩa Áo Dài Truyền Thống Việt Nam
  • Ý Nghĩa Áo Dài Trong Đám Cưới Của Người Việt
  • Ý nghĩa lá cờ Việt Nam là gì?

    Theo Wikipedia, Quốc kỳ Việt Nam (còn gọi là Cờ Tổ quốc) hiện nay được công nhận chính thức từ năm 1976, là lá cờ đại diện cho nước Việt Nam sau ngày thống nhất hai miền Nam – Bắc. Quốc kỳ Việt Nam có hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh.

    Lịch sử và ý nghĩa của lá cờ đỏ sao vàng gắn liền với những năm tháng đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam đánh đuổi quân xâm lược, giành chính quyền, thống nhất đất nước để có được cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc ngày nay.

    Ngôi sao vàng 5 cánh trên Quốc kỳ Việt Nam tượng trưng cho 5 giai cấp, tầng lớp: sĩ, nông, công, thương, binh trong xã hội. Các giai tầng này cũng nhau đoàn kết trong lao động và chiến đấu, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc.

    Chính sức mạnh của sự đồng sức, đồng lòng của mọi giai tầng trong xã hội là một trong những yếu tố để làm nên những chiến công vang dội, để Việt Nam luôn hiên ngang chiến thắng trước mọi thế lực bạo tàn, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do của dân tộc.

    Lịch sử ra đời của lá cờ đỏ sao vàng gắn liền với những năm tháng đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam đánh đuổi quân xâm lược, giành chính quyền, thống nhất đất nước trước âm mưu chia rẽ của kẻ thù để nhân dân Việt nam hôm nay có được cuộc sống hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc.

    cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp và phát xít Nhật năm 1940. Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, còn được gọi với cái tên khác là thầy giáo Hoài ( sinh ngày 5/3/1901 tại Duy Tiên, Hà Nam) là tác giả của lá cờ đỏ sao vàng. Ông đã bị địch bắt và hi sinh ngày 28/8/1941.

    Trước đó, từ năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, trong các cuộc đấu tranh đã xuất hiện hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng nhưng được lồng trên hình búa liềm.

    Năm 1940, Xứ ủy Đảng Cộng sản Đông Dương ở Nam Kỳ họp và quyết định khởi nghĩa. Theo di huấn của đồng chí Trần Phú, lá cờ đỏ sao vàng được chọn làm lá cờ khởi nghĩa.

    Tháng 5/1941, tại Hội nghị Trung ương VIII của Đảng Cộng sản Đông Dương do Nguyễn Ái Quốc chủ trì họp tại Cao Bằng, Mặt trận Việt Minh được thành lập. Đoạn mở đầu của Chương trình Việt Minh ghi rõ: ” Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp – Nhật sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm Quốc kì”. Đây là văn bản đầu tiên, chính thức quy định Quốc kì của Việt Nam là lá cờ đỏ sao vàng.

    Ngày 16/8 /1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, Tuyên Quang đã quyết định Quốc kì Việt Nam là nền đỏ, ở giữa có một ngôi sao vàng 5 cánh

    Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: ” Quốc kì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”.

    Sau Cách mạng tháng Tám thành công chưa được bao lâu thì nhân dân ta lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp và sau đó là kháng chiến chống Mĩ xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành 2 miền Bắc – Nam với những nhiệm vụ cách mạng khác nhau.

    Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Bắc – Nam thống nhất một dải, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã công nhận Quốc kì nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là lá cờ đỏ sao vàng.

    Hiện nay, tại Khoản 1 Điều 13, Hiến pháp 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: ” Quốc kì nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”.

    * Lá cờ tung bay trong nắng gió

    Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong nắng gió là một biểu tượng đẹp đẽ của một đất nước yêu chuộng hòa bình, tự do, nỗ lực vươn lên để phát triển và hội nhập.

    Lá cờ ấy phất lên, hiên ngang, đẹp đẽ hơn bất cứ điều gì khác. Nó là kết tinh của lòng yêu nước, sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc trong những năm tháng kháng chiến gian khổ mà vẻ vang, hào hùng.

    Hình ảnh người chiến sĩ nơi đảo xa chắc tay súng dưới cột cờ Tổ quốc tung bay đẹp hào hùng. Nơi đầu sóng ngọn gió, lá cờ ấy vẫn một sắc đỏ, sao vàng phấp phới bay, hướng về đất liền – trái tim yêu của Tổ quốc!

    Hình ảnh cờ đỏ sao vàng là một biểu tượng không thể thiếu để cổ vũ tinh thần cho các “anh hùng sân cỏ”. Cả một vùng trời ngập tràn cờ đỏ sao vàng thể hiện một tinh thần dân tộc thiêng liêng, mãnh liệt hơn bất cứ thứ sức mạnh nào. Các cầu thủ Việt Nam ra sân luôn thi đấu với một tinh thần quyết tâm cao nhất, vì màu cờ sắc áo của dân tộc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chữ “việt” Của Dân Tộc Việt Có Ý Nghĩa Gì?
  • Việt Nam Và Những Quốc Hiệu Trong Lịch Sử
  • Ý Nghĩa Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11 Có Thể Bạn Chưa Biết?
  • Ý Nghĩa Của Các Loại Hoa Trang Trí Ngày Tết
  • Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Có Ý Nghĩa Gì?
  • Chữ “việt” Của Dân Tộc Việt Có Ý Nghĩa Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Lá Cờ Việt Nam, Ý Nghĩa Ngôi Sao Năm Cánh Trên Quốc Kỳ Việt Nam
  • Ý Nghĩa Lịch Sử Của Quốc Kỳ Và Quốc Ca Việt Nam
  • Quốc Ca Việt Nam Và Quốc Ca Nhật Bản
  • Vai Trò Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Trong Những Bước Ngoặt Lịch Sử
  • Những Điều Không Phải Ai Cũng Biết Về Ý Nghĩa Áo Dài Truyền Thống Việt Nam
  • Mỗi một dân tộc trên thế giới đều có tự hào về tên gọi của dân tộc mình. Nhật Bản nghĩa là “gốc của mặt trời” và người Nhật tự hào mình là “đất nước mặt trời mọc”; người “Trung Hoa” vẫn tự hào rằng dân tộc mình là tinh hoa trung tâm của thế giới.

    Vậy chữ “Việt” của người Việt mang ý nghĩa gì? Điều này vẫn được giải thích qua quốc hiệu “Việt Nam” là người Việt ở phương nam.

    Những nhà nghiên cứu tìm hiểu ý nghĩa từ “Việt” qua chữ Hán 越 , chữ này bao gồm chữ “tẩu” 走 (tức là chạy) bên trái và chữ “qua” 戊 (tức là giáo mác, búa, chiến tranh) bên phải cấu thành. Từ đó có người cho rằng chữ Việt có nghĩa là người Việt phải chạy về phía nam để tránh bị người Hoa Hạ đồng hóa.

    Thế nhưng theo truyện cổ thì người Việt vốn tự hào là con rồng cháu tiên, rất nhiều câu chuyện từ xa xưa đều gắn với điều này. Vì thế hàm nghĩa của chữ “Việt” chắc chắn không thể đơn giản như thế được. Để hiểu được chữ “Việt” mang ý nghĩa gì thì phải tìm đến chữ “Việt” của người Việt cổ, chứ không thể qua chữ Hán được.

    Chữ Việt cổ xuất hiện trước cả chữ Hán. Khi Lưu Bang lập ra nhà Hán vào năm 202 trước công nguyên đã tiêu chuẩn thống nhất hóa chữ viết của mình và gọi là chữ Hán, đồng thời bắt các nước chư hầu khác phải dùng theo. Còn trước đó các dân tộc đều có chữ viết của mình, như người Việt đều có chữ viết riêng của mình.

    Chữ của người Việt cổ xưa đến nay vẫn còn được lưu lại trên di tích khai quật được và từ thanh bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn.

    Chữ “Việt” cổ tìm được qua khai quật

    Các cuộc khai quật tại tỉnh Hà Nam (thuộc Trung Quốc ngày nay) đã phát hiện nhiều di tích đồ đồng từ thời nhà Thương (1600 đến 1046 trước công nguyên). Hà Nam chính là đất Ân thời nhà Thương. Trong sử Việt có câu chuyện Thánh Gióng đánh giặc Ân, chính là nhà Thương vào thời đấy.

    Các cuộc khai quật tìm thấy nhiều chữ viết trong đó có chữ “Việt” cổ, được lưu lại tại website http://www.chineseetymology.org. Đây là website của ông Richard Sears là nhà nghiên cứu cổ ngữ, ông đã bỏ ra 27 năm trời để nghiên cứu cổ ngữ có trước chữ Hán. Ông sưu tầm tỉ mỉ từng chữ và đánh dấu lại bằng mã số.

    Trong đó các chữ “Việt” được tìm thấy chư sau:

    Chữ “Việt” cổ tìm được trên bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn

    Năm 1965 khi khai quật khu mộ cổ ở tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc), các nhà khảo cổ học đã tìm được thanh bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn, thanh bảo kiếm này hoàn toàn không bị hoen gỉ, còn như mới suốt 2500 năm qua; không chỉ thanh kiếm còn nguyên vẹn, mà thậm chí từng hoa văn chữ viết trên đó vẫn còn rất rõ ràng

    Nước Việt thời Câu Tiễn (trị vì từ năm 496 đến 465 trước công nguyên) là của thị tộc người Ư Việt – một trong những thị tộc thuộc nhóm Bách Việt.

    Chữ viết được khắc trên thanh kiếm này không phải là chữ Hán, các nhà khảo cổ học xác định đây là loại chữ còn có trước cả chữ Hán. Thanh kiếm được khắc 8 chữ là “Việt Vương Câu Tiễn Tự Tác Dụng Gươm”. Đặc biệt chữ “Việt” trên thanh bảo kiếm này không có trong chữ Hán, cũng như không có trong bất kỳ bộ từ điển nào nhưng hoàn toàn trùng khớp với chữ “Việt” cổ.

    Nước Việt thời Câu Tiễn (năm 496 đến 465 trước công nguyên) là của thị tộc người Ư Việt – một trong những thị tộc thuộc nhóm Bách Việt, thời kỳ này còn trước thời Lưu Bang lập ra chữ Hán đến 200 năm, nên chữ trên thanh kiếm này chắc chắn là chữ của người Ư Việt lúc đó nên đương nhiên là khác với chữ Hán.

    So sánh chữ “Việt”trên kiếm của Việt Vương Câu Tiễn và di tích chữ “Việt” khai quật được là trùng khớp nhau

    Chữ Việt có ký hiệu B01749 được xác định có từ thời đồ đồng

    Chiết tự từng chữ trong chữ “Việt”

    Để hiểu được ý nghĩa bên trong chữ “Việt” cổ này, cần chiết tự, chữ được hợp thành từ 3 chữ như sau

    Ba chữ trên gồm chữ số 1 là mặt trời, số 2 là “rồng”, số 3 là “người chim” ghép thành

    Chữ số 1 này giống như chữ nhật (mặt trời) từ niên đại giáp cốt văn và đồ đồng

    Chữ số 2 rất giống với chữ long (rồng) từ niên đại giáp cốt văn

    Chữ thứ 3 này giống với chữ có ký tự B01747 – đây là chữ Việt. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đại Việt cho rằng giống với hình tượng người mặc trang phục đồ chim tay cầm binh khí đang nhảy múa trong lễ hội trên trống đồng Ngọc Lũ.

    Ý nghĩa của chữ “Việt”

    Qua phần chiết tự ở trên cho thấy chữ “Việt” do mặt trời, rồng và hình tượng người chim tạo thành.

    hình tượng người trong trang phục gắn lông chim cầm cung hay dây côn rất phổ biến trên trống đồng, Trong lễ hội người Việt cổ, thường hóa trang thành người chim với biểu tượng là “cháu Tiên”, đầy là phong tục nổi bật của người Việt cổ

    Chữ rồng cùng hình tượng người chim chính là biểu tượng “con rồng cháu tiên”. Người Việt từ cổ xưa vẫn luôn quan niệm mình là “con rồng cháu tiên”, đây đều là nét đặc sắc trong văn hóa người Việt.

    Trả qua hàng nghìn năm lịch sử, nhưng hình tượng chữ “Việt” từ xa xưa vẫn còn được lưu lại cho đến ngày hôm nay. Với ý nghĩa của chữ Việt này, người việt có thể tự hào về truyền thống văn hóa đặc sắc và độc đáo của dân tộc mình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Việt Nam Và Những Quốc Hiệu Trong Lịch Sử
  • Ý Nghĩa Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11 Có Thể Bạn Chưa Biết?
  • Ý Nghĩa Của Các Loại Hoa Trang Trí Ngày Tết
  • Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Có Ý Nghĩa Gì?
  • Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Nguyên Đán
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100