Xem Nhiều 2/2023 #️ Câu Chuyện Saffron Và Đái Tháo Đường # Top 5 Trend | Drosetourmanila.com

Xem Nhiều 2/2023 # Câu Chuyện Saffron Và Đái Tháo Đường # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Câu Chuyện Saffron Và Đái Tháo Đường mới nhất trên website Drosetourmanila.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bệnh tiểu đường kéo theo nhiều biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe bệnh nhân như cao huyết áp, suy thận… Điều đáng sợ hơn là nó ngày càng trở nên phổ biến và đang trở thành vấn nạn ở nhiều quốc gia

Đái tháo đường là gì?

Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa mạn tính rất phổ biến. Khi mắc bệnh tiểu đường, cơ thể bạn mất đi khả năng sử dụng hoặc sản xuất ra insulin một cách thích hợp.

Bệnh tiểu đường có 3 loại chính là tuýp 1, tuýp 2 và đái tháo đường ở phụ nữ mang thai.

Bạn nên biết: Phụ nữ mang thai sử dụng saffron được không?

Tiểu đường tuýp 1

Là chứng rối loạn tự miễn, trong đó hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công các tế bào tuyến tụy thay vì các yếu tố bên ngoài. Điều này sẽ gây ra sự thiếu hụt insulin và tăng lượng đường huyết.

Nếu bạn bị tiểu đường tuýp 1, các triệu chứng sẽ xuất hiện rất sớm và ở độ tuổi khá trẻ, thường là ở trẻ nhỏ hay tuổi vị thành niên.

Tiểu đường tuýp 2

Là bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin (NIDDM), là loại tiểu đường phổ biến nhất, chiếm 90% đến 95% tổng số bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường.

Bệnh thường xuất hiện ở tuổi trưởng thành, nhưng do tỷ lệ béo phì ngày càng cao, hiện nay ngày càng nhiều trường hợp bệnh được phát hiện ở tuổi vị thành niên và người trẻ tuổi. Bạn có thể mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 mà bạn hoàn toàn không biết.

Khi mắc tiểu đường tuýp 2, các tế bào của bạn trở nên đề kháng với insulin, và tuyến tụy không thể tạo ra đủ lượng insulin để vượt qua sự đề kháng này. Thay vì di chuyển vào các tế bào để tạo ra năng lượng, đường sẽ tích tụ lại trong máu của bạn.

Tiểu đường ở phụ nữ mang thai

Tình trạng này thường gặp ở phụ nữa trong thời kỳ mang thai và sẽ kết thúc khi cô ấy sinh xong.

Nguyên nhân của tiểu đường

Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường tuýp 1

Nguyên nhân chính xác gây bệnh tiểu đường tuýp 1 không rõ. Theo các chuyên gia, nguyên nhân tiểu đường có thể là do hệ thống miễn dịch tấn công và phá hủy các tế bào sản xuất insulin của bạn trong tuyến tụy. Điều này khiến bạn có ít hoặc không có insulin. Lúc này, lượng đường thay vì chuyển đến các tế bào lại tích lũy trong máu, gây ra bệnh tiểu đường.

Bệnh tiểu đường tuýp 1 được cho là do tính nhạy cảm di truyền và các yếu tố môi trường gây ra, mặc dù các yếu tố chính xác gây bệnh vẫn chưa rõ.

Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường tuýp 2 và tiền tiểu đường

Ở những người bị tiền tiểu đường và tiểu đường tuýp 2, các tế bào trở nên đề kháng với hoạt động của insulin và tuyến tụy không thể tạo đủ insulin để vượt qua sự đề kháng này. Lúc này, đường sẽ không thể đến các tế bào trong cơ thể mà tích tụ trong máu.

Nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa rõ, mặc dù nhiều người tin rằng yếu tố di truyền và môi trường đóng một vai trò trong việc gây ra bệnh tiểu đường tuýp 2. Thừa cân có liên hệ chặt chẽ với sự xuất hiện của bệnh, nhưng không phải ai mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 đều thừa cân.

Triệu chứng thường gặp

Có cảm giác cực kỳ khát, hay còn được gọi là chứng khát nhiều.

Đi tiểu nhiều, đôi khi đi thường xuyên mỗi giờ, còn gọi là chứng tiểu nhiều.

Sụt cân không rõ nguyên nhân.

Cảm thấy kiệt sức và mệt mỏi.

Một vài cách giúp bạn hạn chế khả năng mắc tiểu đường

Phòng bệnh tiểu đường trước khi lượng đường và insulin trong máu lên quá cao sẽ giúp bạn tránh được nhiều biến chứng nguy hiểm. Bằng cách duy trì chế độ ăn uống lành mạnh kết hợp với vận động thường xuyên, bạn sẽ không lo mắc phải chứng bệnh phổ biến này!

Theo dõi cân nặng : Béo phì là nguyên nhân phổ biến gây tiểu đường tuýp 2. Vì thế việc quản lý được trọng lượng của bản thân là một cách hiệu quả giúp bạn có thể hạn chế được nguy cơ mắc bệnh.

Tập thể dục: Một nghiên cứu ở Phần Lan phát hiện ra rằng những người tập thể dục khoảng 35 phút mỗi ngày có nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường ít hơn 80% so với người không tập thể dục. Nguyên nhân là do tập thể dục giúp tăng cường tiêu thụ insulin trong các tế bào và giúp di chuyển đường trong máu vào trong các tế bào.

Tránh căng thẳng: việc phải chịu căng thẳng thường xuyên cũng làm tăng đáng kể lượng đường trong máu. Do khi căng thẳng cơ thể đòi hỏi nhiều oxi dẫn đến hô hấp và nhịp tim tăng hơn bình thường.

Ăn uống hợp lý: ăn nhiều chất xơ, hạn chế cacbonhidrat và tinh bột đặc biệt là tinh bột trắng, không hút thuốc lá hay sử dụng chất kích thích. Bên cạnh đó việc uống trà và cà phê hàng ngày với liều lượng thích hợp cũng giúp bạn giảm nguy cơ mắc tiểu đường đáng kể.

Sử dụng thảo dược: bên cạnh các phương pháp trên, việc sử dụng thêm các lợi thảo dược trong thực đơn hàng ngày như nghệ, hoàng đắng, hoàng bá….

Saffron có thể làm gì giúp bạn?

Theo một báo cáo nghiên cứu mới đây trên tạp chí khoa học được thực hiện ở trường đại học Malaysia đã chứng minh rằng saffron có tác dụng rõ rệt trên các thông số của đái tháo đường trong ống nghiệm và trên lâm sàng.

Saffron kích thích giải phóng insulin trong tế bào và cải thiện khả năng hấp thụ glucose trong tế bào cơ.

Bạn nên biết: Phân loại nhụy hoa nghệ tây

Các phát hiện cũng cho thấy tiêu thụ nghệ tây cùng với tập thể dục có thể cải thiện các thông số bệnh tiểu đường thông qua các cơ chế qua trung gian oxy hóa khử và con đường GLUT4 / AMPK để bắt đầu hấp thu glucose.

Bên cạnh đó, saffron có thành phần chính là Crocin và crocetin, là những carotenoit quan trọng nhất và có phổ hoạt động sinh học rất rộng. 2 chất này tham gia trực tiếp vào quá trình chống kháng insulin. Vì thế không chỉ giúp phòng chống mà insulin còn có tác dụng trong việc điều trị bệnh tiểu đường. Giúp cho bệnh nhân có thể ít phải tiêm bổ sung insulin hơn.

Hy vọng các thông tin trên có thể giúp ích được cho bạn trong việc bảo vệ sức khỏe của bản thân.

Cùng Henago theo dõi saffron sức khỏe để hiểu thêm về công dụng của nhụy hoa nghệ tây.

Thuốc Điều Trị Đái Tháo Đường

THUỐC ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Trích trong cuốn “Thực hành cấp cứu và điều trị bệnh nội khoa” Hà Hoàng Kiệm. NXB YH 2006, tái bản có bổ xung 2008, 2011, 2013.

1. INSULIN

          Insulin sử dụng trong điều trị được chiết xuất từ tụy lợn, bò hoặc cá heo, hiện nay người ta sử dụng công nghệ gen để tái tổ hợp insulin người.

          Insulin bò khác với insulin người tới 3 acid amin: A8 A10, B30, do đó bệnh nhân điều trị bằng insulin bò có nồng độ lgG và IgA trong huyết thanh cao hơn.

          Insulin người tái tổ hợp bằng công nghệ gen có cấu trúc phân tử giống hệt insulin người, nên không có tính kháng nguyên và đạt độ tinh khiết cao.

          Độ tinh khiết của insulin phụ thuộc vào lượng preinsulin. Người ta có thể loại bỏ preinsulin bằng các kỹ thuật công nghệ dược phẩm như sắc ký, trao đổi ion… Insulin càng tinh khiết thì càng ít gây biến chứng như kháng isulin, biến chứng loạn dưỡng mỡ tại chỗ tiêm.

Bảng 2.5: Phân loại insulin

Loại insulin

Màu sắc

Bắt đầu tác dụng

Nồng độ đỉnh

Hết tác dụng

Nhanh

Trong

dd: 30 phút

tm: 5 phút

1 – 3 giờ

8 giờ

Chậm trung bình

Đục

2 – 2 giờ 30

4 – 12 giờ

24 giờ

Rất chậm

Đục

4 giờ

8 – 24 giờ

28 – 36 giờ

dd: tiêm dưới da; tm: tiêm tĩnh mạch

          Đơn vị insulin là đơn vị quốc tế (IU): 1IU = 0,04082 mg, 1 mg insulin = 24IU. Người ta dùng ký hiệu U như U40 (40IU/ml), U80 (80IU/ml), U100 (100IU/ml). Insulin được phân loại theo thời gian tác dụng: Loại nhanh (Rapid, regular, standard, solubl), loại chậm trung bình (intermidiate, NPH: neutral protamin hagedorn, lente), loại tác dụng rất chậm (Long, IPZ: insulin protamin zince, ultra – lente).

1.1. Insulin tác dụng nhanh

Đặc tính: trong suốt, có thể dùng bằng tất cả mọi đường tiêm: tĩnh mạch, dưới da, tiêm bắp và dùng được trong mọi tình huống. Insulin bắt đầu tác dụng sau tiêm tĩnh mạch 5 phút, sau tiêm dưới da 30 phút,  có tác dụng cực đại sau 2 – 4 giờ, hết tác dụng sau 6 – 8 giờ.

Lưu ý: khi dùng insulin tiêm dưới da thì insulin có tác dụng nhanh hơn và ngắn hơn nếu như vùng tiêm có tăng hoạt động thể lực (đùi nếu như tập chạy, cánh tay nếu như chơi tennis và bụng nếu như bơi thuyền).

Ưu điểm:

+ Là loại duy nhất dùng trong cấp cứu do tác dụng hạ đường huyết nhanh chóng.

+ Có thể trộn lẫn với insulin chậm tùy theo mục đích và nhu cầu điều trị.

+ Có thời gian tác dụng ngắn và mạnh để làm giảm đường huyết sau khi ăn.

Nhược điểm: Thời gian tác dụng ngắn nên phải tiêm nhiều lần trong ngày (4 mũi tiêm dưới da, thực tế không dùng riêng insulin tác dụng nhanh để điều trị mà phải kết hợp thêm insulin tác dụng bán chậm hoặc chậm).     

+ Insulin lợn

– Suinsulin: bắt đầu tác dụng sau tiêm dưới da 20 – 30 phút, tác dụng tối đa sau 2 đến 4 giờ, tác dụng kéo dài 6 – 7 giờ.

– Actrapid: bắt đầu tác dụng sau 15 phút, tác dụng tối đa sau 2 – 4 giờ, tác dụng kéo dài 6 – 8 giờ.

+ Insulin cá voi: ưu điểm có tính kháng nguyên yếu.

1.2. Insulin tác dụng chậm trung bình (bán chậm)

Để làm giảm bớt số lần tiêm trong ngày, người ta đã sản xuất ra loại insulin có tác dụng dài hơn gồm 2 loại insulin là NPH (Neutral Protamine Hagedorn) hay IZS (Insulin Zinc Suspension) hay lent để sử dụng trong chế độ điều trị với 2 hay 3 mũi tiêm trong ngày. Bắt đầu tác dụng sau 2 giờ – 2 giờ 30 phút, tác dụng tối đau sau 4 – 12 giờ, tác dụng kéo dài 24 giờ. Loại insulin NPH: Bắt đầu tác dụng sau 1 giờ, tác dụng mạnh nhất sau 4 – 8 giờ, hết tác dụng sau 14 – 18 giờ. Với loại insulin này thì các điểm gắn kết insulin của protamin đã bão hòa nên loại insulin này có thể dùng trộn lẫn với insulin nhanh. Tuy nhiên nhược điểm của loại insulin này có thể gây ra loạn dưỡng mỡ nơi tiêm (hiếm gặp). Loại insulin IZS (insulin kẽm): Thời gian tác dụng có thể từ 6 – 36 giờ tùy theo cách thức sản xuất.

Ưu điểm: của các loại insulin tác dụng trung bình là có nhiều loại với thời gian tác dụng khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu điều trị và sự thuận lợi của bệnh nhân. Nhược điểm: có thể gây đau khi trộn với insulin nhanh.

+ Suspensio – Zinc – Insulin – Amophe (SZIA): thuốc của Liên Xô bắt đầu tác dụng sau 1 giờ, tác dụng tối đa sau 5 – 8 giờ.

+ Insulin B (Đức): bắt đầu tác dụng sau 1 giờ,  tác dụng tối đa sau 3- 6 giờ.

+ Semilent (hãng Novo Đan Mạch): bắt đầu tác dụng sau 1 giờ 30 phút.

1.3. Insulin trộn sẵn

Đặc điểm: Là loại insulin trộn lẫn giữa 2 loại nhanh và trung bình theo tỷ lệ nhất định. Dịch tiêm đục như sữa.

+ Có tỷ lệ 30% insulin nhanh và 70% insulin trung bình.

+ Có tỷ lệ 50% insulin nhanh và 50% insulin trung bình. Ngoài ra còn tiến hành trộn theo những tỷ lệ khác mà trong đó loại nhanh chiếm 10 – 20 – 40%.

Đặc tính: cùng lúc có 2 tác dụng là nhanh do loại nhanh đảm trách và kéo dài do loại trung bình đảm trách. Với người ăn nhiều tinh bột đường thì thích hợp với loại trộn 40-50% nhanh. Phần lớn bệnh nhân dùng loại trộn 30% nhanh. Một vài người có khuynh hướng hạ đường huyết giữa các bữa ăn nên dùng trộn 10 – 20%.

Ưu điểm: tiện dùng, phù hợp hơn với sinh lý mà không đòi hỏi phải tự trộn lấy liều khi dùng riêng từng loại nhanh chậm.

Nhược điểm: vì tỷ lệ pha trộn là cố định nên khó điều chỉnh cho phù hợp với từng tình huống cụ thể: ăn bữa no nếu tăng liều cả insulin nhanh và chậm sẽ gây hạ đường huyết muộn. Trong khi lẽ ra chỉ tăng từ 2 đến 6 đơn vị loại insulin nhanh.

1.4. Insulin tác dụng chậm

Đặc tính: dịch tiêm đục như sữa, là loại insulin có kết hợp với kẽm, chia làm 2 nhóm chính.

Nhóm 1: loại tác dụng 24 giờ. Bắt đầu tác dụng sau 4 giờ, tác dụng tối đa sau 8, tác dụng kéo dài 24 giờ.

Nhóm 2: loại tác dụng 36 giờ. Bắt đầu tác dụng sau 4 giờ, tác dụng tối đa sau 24 giờ, tác dụng kéo dài sau 28 – 36 giờ.

Ưu điểm: Chỉ cần một mũi tiêm có tác dụng trong cả 24 giờ trong ngày.

Nhược điểm: Tại chỗ: đỏ, đau nơi tiêm. Hạ đường huyết không lường trước do tác dụng kéo dài chồng chéo với các mũi tiêm khác. Thường không làm giảm được đường máu sau ăn do thời gian hấp thu vào máu chậm.        

+ Protamin – Zinc – Insulin (PZI): bắt đầu tác dụng sau 3 – 6 giờ, tác dụng tối đa 14 – 20 giờ, tác dụng kéo dài 24 – 36 giờ.

+ Suspensio – Zinc – Insulin – Crystallisat (SZIC): thuốc của Liên Xô tác dụng kéo dài 30 – 36 giờ.

+ Insulin ultralen (của hãng NoVo Đan Mạch) tác dụng kéo dài 30 – 60 phút

+ Insulin lent (của hãng NoVo Đan Mạch) tác dụng kéo dài 24 giờ

+ Suspensio- Zinc – Insulin (SZI) thuốc của Liên Xô tác dụng kéo dài 24 giờ

2. CÁC THUỐC UỐNG

2.1. Nhóm sulfonylurea

          Thuốc có tác dụng kích thích tế bào b tiết insulin, do đó chỉ dùng cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2, không dùng cho bệnh nhân đái tháo đường týp 1.

+ Thuốc thế hệ I:

– Tolbutamid (butamid, xiclamid, orabed, orinasa, tolbucal). Dạng viên 0,25 g, 0,5g, liều 0,54 – 1g/24 giờ, chia làm 2 – 3 lần uống. Tác dụng sau 1 giờ, tác dụng tối đa sau 4 – 5 giờ, tác dụng kéo dài 10 – 12 giờ.

– Cacbutamid (BZ55, oranid, bucaban…). Dạng viên 0,5 g liều 0,5 g/lần uống 2 – 3 lần/24 giờ. Tác dụng sau 1 – 1 giờ 30 phút, tác dụng tối đa sau 4 – 5 giờ, tác dụng kéo dài 24 giờ.

– Chlopropamid (galiron, diabiez, mellinez…). Dạng viên 0,25 g, liều 0,5 – 0,75g/24giờ uống 1 lần buổi sáng. Tác dụng sau 1 giờ, tác dụng tối đa sau 3 – 4 giờ, tác dụng kéo dài 24 giờ.

+ Thuốc thế hệ II (glibenclamid):

– Daonil, dạng viên 5 mg

– Maninil, dạng viên 5 mg

– Prediant, dạng viên 80 mg

– Gliburid viên 5 mg

– Gliclazide MR viên 30 mg

– Diamicron viên tác dụng nhanh 80mg, viên tác dụng chậm (MR) 30mg

          Thuốc tác dụng sau 1 giờ, tác dụng tối đa sau 4 giờ, tác dụng kéo dài 18 – 20 giờ. Dạng viên 5 mg, liều 1 – 2 viên/ngày, tối đa 4 viên/ngày. Tác dụng phụ: hạ đường huyết, tăng cân. Ngừng điều trị khi điều trị trên 6 tháng mà HbA1c ≥ 7,4%.

2.2. Nhóm biguanid

          Không kích thích tế bào b tiết insulin, thuốc chỉ có tác dụng ngoại vi  làm tăng nhậy cảm với insulin của tế bào ngoại vi. Thuốc làm tính thấm của màng tế bào với glucose, tăng sử dụng glucose của tế bào ngoại vi, giảm hấp thụ glucose ở ruột, giảm phân huỷ glucose trong gan.

          Có 3 phân nhóm khác nhau về cấu trúc hoá học:

+ Phen ethyl biguanid:

– Phenfomin

– Dibotin

            Viên nang tác dụng nhanh 25 mg, viên nén tác dụng chậm (Dibotin retard) 50 mg.

+ Buthyl biguanid:

– Bufomin

– Adebid

– Silubin

          Viên tác dụng nhanh 50 mg, viên tác dụng chậm 100 mg (silubin retard)

+ Dimethyl biguanid:

– Metformin

– Glucophage

          Viên tác dụng nhanh 0,5 g, viên tác dụng chậm 0,85 g (glucophage retard). Viên tác dụng nhanh tác dụng sau 30 phút – 1 giờ, tác dụng tối đa 4 – 6 giờ, tác dụng kéo dài 8 – 10 giờ. Viên tác dụng chậm tác dụng sau 2 – 3 giờ, tác dụng kéo dài 14 – 16 giờ. Tác dụng phụ: nôn, ỉa chảy, đau bụng, không làm hạ glucose máu quá mức, không sử dụng khi mức lọc cầu thận dưới 30 ml/phút (vì dễ hôn mê do tăng acid lactic). Ngừng điều trị khi có dấu hiệu thiếu oxy mô (nhồi máu cơ tim, nhiễm khuẩn huyết…), không dùng thuốc cản quang có iod khi đang điều trị bằng thuốc biguanid, sau dùng 16 tuần (4 tháng) mà HbA1c ≥ 7%.

2.3. Nhóm benfluorex

Mediator viên 150mg. Cách dùng, tuần đầu uống 1 viên/ngày vào bữa ăn tối. Tuần thứ hai, uống 2 viên/ngày vào bữa trưa và tối. Tuần thứ ba trở đi,  uống 3 viên/ngày vào bữa sáng, trưa và tối. Có thể phối hợp thuốc với một trong các thuốc hạ glucose máu khác.

Thuốc có tác dụng cải thiện tình trạng kháng insulin, làm tăng nhậy cảm của receptor của mô gan và cơ với inhsulin. Thuốc còn có tác dụng làm giảm lipid máu, thích hợp chỉ định cho bệnh nhân đái tháo đường typ 2 thể có béo phì. Tuy nhiên gần đây, nhiều báo cáo cho thấy sử dụng kéo dài mediator gây xơ hoá van tim, nhất là van động mạch chủ. Hiện nay thuốc này đang được xem xét có nên để tiếp tục lưu hành hay không.

2.4. Nhóm rosiglitazon

          Avandia viên 4mg, uống 1-2 viên/ngày

          Thuốc làm tăng nhậy cảm với insulin của tế bào ngoại vi do có tác dụng hoạt hoá PPARó (peroxisom proliferators-activated receptor ó), làm tăng nhạy cảm của mô cơ và mỡ với insulin. Thuốc còn ngăn cản quá trình giải phóng glucose từ gan. PPARó là nhóm thụ thể hormone ở nhân tế bào, được hoạt hoá bởi yếu tố tăng trưởng peroxisom, có vai trò phiên mã các gen kiểm soát chuyển hoá. Do đó, thuốc còn giúp điều hoà chuyển hoá lipid, protid, chức năng tế bào beta. Tác dụng không mong muốn có thể gặp: hạ đường huyết quá mức, giữ nước, rối loạn chức năng gan, gãy xương. Cần theo dõi cân nặng và men gan mỗi tháng một lần trong thời gian sử dụng thuốc. Ngừng thuốc khi ALT (SGOT) tăng trên 3 lần so với bình thường, nếu tăng cân hoặc phù. Không dùng nhóm thuốc này nếu tiền sử hoặc hiện tại có loãng xương.

2.5. Sulfunylurea gắn với receptor

Nateglinide liều 60 mg/ngày, uống trước ăn 30 phút, tăng liều khi cần.

Thuốc làm tăng giải phóng insulin từ tế bào beta.

2.6. Peptid giống glucagon (GLP: glucagon like peptit)

Thuốc có hai loại:

+ GLP1: exenatide viên 5 mg, uống trước ăn 30 phút, tăng dần sau 4 tuần tới 10 mg/kg. Không dùng khi mức lọc cầu thận < 30 ml/phút.

2.7. Nhóm ức chế men alpha glucosidase

Các thuốc thuộc nhóm này không có tác dụng làm hạ đường huyết, nhưng làm chậm quá trình hấp thu đường từ ống tiêu hoá sau khi ăn. Thuốc ức chế cạnh tranh với alpha glucosidase ở niêm mạc ruột, do đó quá trình hấp thu đường ở phần đầu ống tiêu hoá bị hạn chế, đường trong thức tiếp tục được hấp thu ở đoạn sau của ống tiêu hoá,  điều này đã hạn chế được hiện tượng tăng vọt đường huyết sau bữa ăn. Thuốc được sử dụng cho những bệnh nhân khó kiểm soát chế độ ăn và được dùng phối hợp với các thuốc uống hạ đường huyết. Thuốc có hai thế hệ:

+ Thế hệ 1 (nhóm acarbose): glucobay viên 50 mg, 100 mg. Khởi đầu dùng 100 mg/ngày chia làm 2 lần, sau đó tăng lên 200 mg/ngày chia làm 2 lần. Viên thuốc được nhai cùng bữa ăn. Tác dụng phụ có thể gây đầy bụng, đau bụng, tiêu chảy.

+ Thế hệ thứ 2 (nhóm vioglibose): basen viên 0.2mg; 0,3mg. Cơ chế  tác dụng chủ yếu là ức chế quá trình thuỷ phân đường đôi thành đường đơn, làm chậm quá trình hấp thu đường ở đường tiêu hoá. Thuốc thế hệ 2 được ưa dùng hơn vì tránh được tác dụng không mong muốn của thuốc thế hệ 1.

2.8. Nhóm ức chế kênh SGLT2

– Emphagliflozin (Jardiance) viên nén 10mg, 25mg

– Daphagliflozin viên nén 5mg, 10mg

– Canagliflozin (Invokana) viên nén 100mg, 300mg.

Ở người bình thường, thận đóng vai trò nhất định trong điều hòa đường huyết. Hơn 99% glucose được cầu thận lọc ra nước tiểu đầu được ống lượn gần của thận táI hấp thu thông qua hoạt động của kênh vận chuyển SGLT2 và SGLT1. ậ người không đáI tháo đường , kênh SGLT2 hấp thu 80 – 90% lượng glucose tại ống thận. Khi lượng glucose vượt ngưỡng hấp thu của thận sẽ có glucose trong nước tiểu. Ở người đáI tháo đường týp 2  có sự gia tăng đáng kể biểu hiện của kênh vận chuyển SGLT2 và GLUT2 cũng như tăng ngưỡng táI hấp thu glucose của thận.

Hình 1. Tái hấp thu glucose ở thận

Ngoài tác dụng hạ đường thuyết, thuốc nhóm ức chế kênh SGLT2 còn có tác dụng giảm cân, giảm huyết áp cả tâm thu và tâm trương. Chúng có một số tác dụng ngoại ý như: tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu, sinh dục, tắc mạch chi và đặc biệt là nguy cơ gây hôn mê do nhiễm toan ceton với mức glucose máu bình thường hoặc tăng nhẹ.

CHIA SẺ BÀI VIẾT

Ý Nghĩa Xét Nghiệm Hba1C Trong Kiểm Soát Glucose Ở Bệnh Nhân Đái Tháo Đường

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ. Bác sĩ. Vũ Thị Duyên – Bác sĩ Thận – Nội tiết, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng. HbA1c là một trong những chỉ số xét nghiệm rất quan trọng với bệnh nhân đái tháo đường vì nó phản ánh tình trạng glucose máu trong 3 tháng vừa qua của họ đã được kiểm soát tốt hay chưa. Trên cơ sở đó giúp cho bệnh nhân cũng như bác sĩ điều trị có kế hoạch điều trị kịp thời cũng như phòng ngừa các biến chứng của bệnh gây ra. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân không hiểu đúng tầm quan trọng của chỉ số này nên việc kiểm tra chỉ số HbA1c đang ít được sử dụng. Vậy chỉ số HbA1c là gì, có ý nghĩa như thế nào trong chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường ?

HbA1c là một loại hemoglobin đặc biệt kết hợp giữa hemoglobin và đường glucose, nó đại diện cho tình trạng gắn kết của đường trên Hb hồng cầu. HbA1c tồn tại trong hồng cầu, có chức năng vận chuyển oxy và glucose đi nuôi cơ thể.

Sự hình thành HbA1c xảy ra chậm 0.05% trong ngày và tồn tại suốt trong đời sống của hồng cầu 120 ngày, thay đổi sớm nhất trong vòng 4 tuần lễ.

Bình thường HbA1c chiếm 4-6% trong toàn bộ hemoglobin.

Chỉ số HbA1c cao khi tăng trên bình thường 1% tương ứng với giá trị đường huyết bạn tăng lên 30mg/dl hay 1.7mmol/l.

Khi HbA1c < 6.5% cho thấy bạn đang kiểm soát đường huyết tốt.

Xét nghiệm HbA1c được thực hiện bằng cách lấy một mẫu máu nhỏ của bạn, mẫu máu sẽ được đo chỉ số tại phòng xét nghiệm, kết quả được tính theo tỷ lệ phần trăm hemoglobin của máu.

Chỉ số HbA1c phản ánh tình trạng kiểm soát đường của bệnh nhân liên tục trong 3 tháng giúp cho bệnh nhân và bác sĩ điều trị có kế hoạch điều trị tiếp. Ngoài ra HbA1c có giá trị chẩn đoán cũng như tầm soát sớm tiền đái tháo đường.

Đối với bệnh nhân tiểu đường, chỉ số HbA1c < 6.5% có nghĩa đường máu của bạn đang được kiểm soát tốt, điều này có nghĩa có thể làm chậm và ngăn ngừa sự phát triển các biến chứng về mắt, thận, tim mạch và thần kinh do bệnh tiểu đường gây ra.

Chỉ số HbA1c có thể sử dụng để chẩn đoán bệnh đái tháo đường và tiền đái tháo đường ( Hiệp hội đái tháo đường hoa kỳ).

Tất cả các bệnh nhân đái tháo đường type 1 và type 2 tốt nhất nên xét nghiệm chỉ số HbA1C 3 tháng/ 1 lần. Trường hợp không có điều kiện thì tối thiểu 6 tháng/ 1 lần. Dựa vào kết quả đó ta có thể xây dựng kế hoạch điều trị tiếp theo cho bệnh nhân để phòng ngừa tối đa các biến chứng của bệnh gây ra như biến chứng mạch máu và thần kinh.

Theo dõi đường huyết khi đói chỉ cho thấy giá trị đường huyết ở thời điểm làm xét nghiệm.

Còn xét nghiệm HbA1c phản ánh bức tranh lớn hơn và toàn diện hơn về tỷ lệ % trung bình đường huyết của bạn trong 3 tháng vừa qua. Nhưng chỉ số HbA1C có ý nghĩa và giá trị hơn glucose máu đói tại 1 thời điểm.

XEM THÊM:

Kiểm soát mức đường huyết ổn định liên tục 24 giờ trong ngày là tác động chính trong việc làm giảm chỉ số HbA1c theo mục tiêu.

Muốn mình kiểm soát đường huyết ổn định trong thời gian lâu dài đòi hỏi bạn phải tuân thủ nghiêm ngặt hàng ngày về chế độ ăn, chế độ tập luyện, chế độ dùng thuốc và tự theo dõi đường huyết tại nhà.

Chính những vì những giá trị của HbA1C đó mà hiện nay xét nghiệm HbA1c là một trong những xét nghiệm được thực hiện trong Gói sàng lọc tim mạch và tiểu đường tại Vinmec, giúp phát hiện sàng lọc sớm bệnh đái tháo đường và từ đó có kế hoạch điều trị bệnh kịp thời và hiệu quả.

Câu Chuyện Và Ý Nghĩa Về Cây Xương Rồng

Câu chuyện về loài cây Xương Rồng được bắt đầu ở một vùng hẻo lánh và khô cằn. Ở nơi đó con người sống rất khó khăn hàng ngày phải đối mặt với nỗi lo âu về cơm áo, cuộc sống gia đình. Nhưng điều đáng nói và bắt đầu câu chuyện ở đây là vùng quê nghèo đó có hai người yêu nhau.

Chàng trai tên Andrew và cô gái tên Hilda đều ở đang độ tuổi đôi mươi. Hilda là người hiền lành, chăm chỉ, cô có làn da trắng, mái tóc đen dài và rất đẹp được người dân trong làng gọi là tóc mây. Andrew cũng là chàng trai với khuôn mặt dễ nhìn và thân hình vạm vỡ, anh cũng thuộc típ người cần cù chịu khó. Hai người có thể nói là một cặp trời sinh nhưng do tính cách cả hai đều rụt rè và một chút lo lắng của sự từ chối mà không ai dám thổ lộ tình cảm.

Đến một ngày nọ, hai người lại có dịp ngồi tâm sự với nhau, sau một hồi nói chuyện và đấu tranh tư tưởng, Andrew đã lấy hết can đảm để thổ lộ tình cảm của mình cho cô gái biết, trong sự lo lắng, hồi hộp và chờ đợi sự đồng ý của cô gái. Nhưng ngày qua ngày chàng trai chỉ nhận được từ Hilda những chậu Xương Rồng. Thật lạ! Theo thời gian tình yêu nồng cháy của hai người dần phai nhạt, một người thì thất vọng còn người kia thì hị vọng mong đối phương sẽ hiểu được tình cảm của mình.

Do thời gian chờ đợi cũng lâu vẫn không thấy hồi âm của Hilda, nên khi có một cô gái khác tỏ tình, Andrew đã nhận lời và đồng ý yêu cô gái đó. Khi biết được tin này Hilda rất thất vọng và buồn bã, cô buồn, khóc rất nhiều. Andrew thì vẫn còn rất nhiều tình cảm với Hilda nhưng bản thân anh nghĩ cô gái đã từ chối mình, nhưng sau một thời gian anh vẫn không thấy cô có người yêu, và nhận được thông tin từ nhiều người hàng xóm là Hilda dạo này rất buồn, hay khóc. Andrew biết tin với địa vị là một người bạn đã đến thăm Hilda, điều bất ngờ khi anh bước tới là nhà của Hilda lúc này rất nhiều xương rồng và có những cây đã nở hoa rất đẹp. Anh đứng thẫn thờ một lúc để ngắm vẻ đẹp của chúng, rồi Hilda bước ra, anh hỏi han và tâm sự và Andrew cuối cùng cũng hỏi lý do sao lại tặng anh ta những chậu Xương Rồng thay vì câu trả lời, bản thân anh nghĩ phải chăng anh xấu xí như loài Xương Rồng nên không xứng đáng với cô. Sau khi được nghe Hilda tâm sự thì Andrew đã không kìm nỗi nước mắt mà ôm trầm lấy cô gái vào lòng. Rồi họ đã có một kết cục tuyệt vời không lâu sau họ đã làm đám cưới và có những đứa con kháu kỉnh, và một vườn Xương Rồng rực rỡ đầy hoa.

Vậy Hilda đã nói gì? Vì trước đây Andrew có nói khoác là anh đã từng học tiếng Tây Ban Nha nên cô gái đã tặng Xương Rồng thay cho câu trả lời. Và Xương Rồng tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là ” Hãy đến và mang em đi “

Các bạn đã hiểu thêm ý nghĩa của Xương Rồng rồi đó nếu bạn yêu ai ngại chưa nói ra thì Xương rồng sẽ là một gợi ý để bạn tặng nửa còn lại của mình. Để mua các loại Xương Rồng các bạn có thể truy cập vào link: https://webcaycanh.com/xuong-rong-canh/

Bạn đang xem bài viết Câu Chuyện Saffron Và Đái Tháo Đường trên website Drosetourmanila.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!